Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”

http://tohuyrua.net/loi-dan-hoang-trieu-truc-tinh-dia-du-toan-do-va-gop-y.html

 “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”

             Lời dẫn và góp ý

 

Sáng 25/7, lễ hiến tặng chính thức tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” của gia đình bác Mai Hồng cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia được tổ chức long trọng tại số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nhân dịp này, Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung lời tựa trên tấm bản đồ quý do chính bác Mai Hồng phiên âm và dịch nghĩa.

 

Image

Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”

Phiên âm:

Địa vực luận vi Tiêu Hà, đắc Tần chi đồ tịch. Hán nhân nãi hữu quát địa dư. Địa chư tạp đồ, nhiên bất thiết phân suất. Hữu bất khảo chính chuẩn vong, hoặc xưng ngoại hoang vu đản chi ngôn. Bất hợp sự thực, quan thị tắc cổ thời diệc hữu địa dư đồ, nhi bất năng độ thế thẩm hình, lịch lịch bất sảng dã. Hậu thế chế đồ giả, đại bất chi nhân, nhi kinh vĩ bất minh, vị miễn thất hào mậu lý nhiên, tắc dục tri đại địa tinh vi, phi thông thiên văn, suy toán tam ngung, lượng đẳng học, bất khả tố tự Trung Quốc thanh uy hất ư Tây hải, Thiên chúa giáo sĩ:  Lợi Mã Đậu, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân chư công viễn thiệp trùng dương lai Hoa truyền đạo. Khang Hy tứ thập thất niên Mậu Tý, Thánh Tổ Nhân Hoàng đế giản phái giáo sĩ Bạch Tấn Lôi hiếu Tư Đỗ Đức mỹ đẳng chế Vạn Lý Thành đồ. Việt nhất niên nhi công thuyên, Thượng hỷ phục hạ, Luân âm trứ Phan Như Lôi hiếu Tư Đỗ Đức mỹ Mạch đại thành hoạch Mông Cổ, Mãn Châu ký Trực Lệ Sơn Đông nhị tỉnh đồ. Ngũ thập niên Tân Mão thượng mệnh giáo sĩ biến hành thập tam tỉnh, lượng địa tạo đồ, Mạch đại Thành Thang thượng hiền vãng Thiểm Tây, Sơn Tây, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây chư tỉnh; Phùng Bỉnh, Chính Đức, Mã Nặc vãng Hà Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Nam chư tỉnh; Phí Ẩn, Hòa Phan như vãng Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, Hồ Quảng chư tỉnh; tứ duyệt tinh sương, qui mô thủy định. Chư giáo sĩ cộng tập kinh sư huy hào miêu hội dĩ nhị tái cáo thành. Nãi dĩ thập ngũ tỉnh toàn đồ. Tấu trình ngưỡng thừa, Thánh lãm mậu thưởng đặc long, tự thị Trung Tây nhân sĩ khảo cầu Trung Hạ, dư đồ đại để tập tiền giáo sĩ nguyên cảo, dư bất sủy cô lậu mô tả thử bức, phi cảm vị phấn bản độc công giá ư tiền nhân chi thượng, duy sổ bách niên gian, các tỉnh, quận, ấp cương thổ sảo cánh, cố tương khuyết giả bổ chi; ngộ giả chính chi. Vụ sử lũy thiêm bất sai liễu như chỉ chưởng. Kỳ diên hải các khẩu, quân  phỏng hành chu đồ tăng nhập. Tự vấn quải nhất lậu, vạn bất túc dĩ cung pháp nhãn. Nhiên hữu tri, tất cáo diệc dữ nhân đồng thiện ý dã.

Quang Tự Giáp Thìn xuân, Dư Sơn Thiên văn đài Chủ biện Sái Thượng Chất chí.***

Dịch nghĩa:                ĐỊA DƯ TOÀN ĐỒ TỚI CÁC TỈNH

                                     CỦA TRIỀU ĐÌNH NHÀ THANH

Lời bàn về Địa vực rằng: Tiêu Hà* thu lượm được Đồ tịch[1] của nhà Tần, nên người nhà Hán mới có cái đại quát về địa dư. Đất đai hỗn tạp, nên thiết kế dư đồ không chia tỉ lệ, lại không khảo chính theo mực thước chuẩn, hoặc có người bảo đó là  lời nói viển vông quái đản không đúng sự thực. Xem đó cũng biết thời cổ đã có địa dư đồ, nhưng không đắc dụng cho việc trắc địa thẩm hình, nên luôn áy náy không yên. Kẻ chế bản đồ đời sau không phải là người thừa kế, kinh vĩ bất tường tránh sao khỏi nhỡ lời sót nhẽ. Nhưng muốn biết sự tinh vi của miền đất rộng lớn, phi vốn học thức thông thiên văn, suy tính tam ngung[2] thì không thể suy tưởng về trước, từ khi uy thanh của Trung Quốc truyền lan tới các giáo sĩ Thiên Chúa giáo ở Tây Hải: Lợi Mã Đậu[3], Thang Nhược Vọng[4], Nam Hoài Nhân[5] vượt trùng dương tới Trung Hoa truyền đạo. Năm Mậu Tý Khang Hy 47 (1708)  đời vua Thanh Thánh Tổ Nhân Hoàng đế, Thánh Tổ nhà Thanh tuyển phái các giáo sĩ Bạch Tấn Lôi hiếu, Tư Đỗ Đức mỹ, chế tác Vạn lý thành đồ, sau hơn một năm (1710) thì công việc hoàn thành. Vua vui mừng, lại xuống chiếu cho [giáo sĩ] Phan Như Lôi hiếu, Tư Đỗ Đức mỹ vẽ bản đồ Mạch đại thành của Mông Cổ, Mãn Châu hợp thành [bản đồ của] hai tỉnh Trực Lệ và Sơn Đông.

Đến năm Tân Mão Khang Hy 50 (1711), vua sai các giáo sĩ đi tới khắp 13 tỉnh, đo lường đất đai tạo bản đồ Mạch đại “Thành Thang chuộng hiền”, đi về các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây; Phùng Bỉnh, Chính Đức, Mã Nặc đi về các tỉnh Hà Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Nam; Phí Ẩn, Hòa Phan – như đi về các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quí Châu, Hồ Quảng. Trải qua một năm bốn lần đọc duyệt, qui mô bắt đầu định hình. Các giáo sĩ đều được triệu tập về kinh đô để họ múa bút vẽ họa, sau hai năm công việc cáo thành với bức toàn đồ 15 tỉnh, tấu trình lên vua ngự lãm. Ngài vui khuyến khích bằng nghi lễ long trọng. Từ đấy các nhân sĩ Trung Hoa và phương tây sưu tập khảo cứu các dư đồ Trung Quốc. Đại để là gia cố bồi tập thêm từ các nguyên cảo của các giáo sĩ đã soạn thảo trước đây. Ta không do dự về kiến văn cô lậu nông cạn của mình để mô tả bức họa này lại không dám tự khoe rằng chỉ một mình có nhiều công hơn cả tiền nhân. Duy về cương vực của các thôn ấp quận huyện ở các tỉnh đã có thay đổi đôi chút, cho nên xem chỗ nào thiếu thì bổ sung, chỗ nào nhầm lẫn thì đính chính sửa sang, làm bớt sai suyễn và làm sáng sủa hơn lên để khi nhìn vào đó thấy rõ ràng như nhìn vào lòng bàn tay, tại các cửa biển ở các miền diên hải đều phỏng họa các đường thủy tầu thuyền ra khơi vào cảng. Tự hỏi nếu mắc một lỗi thì sẽ lấy gì  đề bù đắp đầy đủ cho cách nhìn của vạn con mắt? Nhưng nếu có tri thức tất sẽ nói được lời nói gồm chung thiện ý với mọi người.

Mùa xuân năm Quang Tự nhà Thanh Giáp Thìn (1904), Giám đốc [Chủ biện] đài Thiên văn ở Dư Sơn Sái Thượng Chất chép.

Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2012

Tiến sĩ Mai Hồng

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng Phả học Việt Nam

Sưu tầm, Phiên âm, Dịch chú

Chú thích:

* Tiêu Hà người đất Hán Bái, giúp Cao Tổ nhà Hán định thiên hạ. Cao Tổ vào đất Quan Trung một  mình Tiêu Hà độc thu Đồ tịch của nhà Tần. Lúc Cao Tổ làm vua nhà Hán, Tiêu Hà làm Thừa tướng. Khi Cao Tổ đánh nhau với Hạng Võ, Tiêu Hà thường giữ đất Quan Trung chuyển vận quân lương (chuyển quĩ quân hướng). Lúcbình xong thiên hạ, tính công Tiêu Hà liệt vào hạng nhất được phong tước Toản hầu.

[1] Đồ tịch (Tuân Tử): Đồ tịch bất tri kì nghĩa (chú) Đồ là mô tả về hình thế đất đai; Tịch là sách (sổ) chép Hộ khẩu – Sổ hộ khẩu.

[2] Tam ngung: 3 góc (Luận ngữ) chép lời thời thẩy Khổng dạy: “Cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã” (Chỉ cho một góc mà không biết suy ra ba góc kia, thì ta còn nói gì nữa đây?).

* Các vị giáo sĩ phương Tây giúp vua Khang Hy nhà Thanh lập bản đồ là: Lợi Mã Đậu 利 瑪 竇, Thang Nhược Vọng 湯 若 望, Nam Hoài Nhân 南 懷  仁.

[3] Lợi Mã Đậu 利 瑪 竇- Matteo Bicci. Theo từ điển Từ Nguyên: Ông là giáo sĩ Ý Đại Lợi vào Trung Quốc năm Vạn Lịch thứ 8 (1580) đời vua Minh Thần Tông. Lúc đầu Matteo Bicci tới Quảng Đông, sau đó tới Bắc Kinh xây dựng giáo đường Thiên chúa giáo làm nhiệm vụ truyền giáo. Đó là giáo đường Thiên chúa giáo đầu tiên ở Trung Quốc.  Ông tinh thông chữ Hoa và ngữ ngôn, trước tác Càn Khôn thể nghĩa bằng chữ Hán 2 tập đều không cần phiên dịch. Lại phiên dịch Cơ hà nguyên bản 6 tập cũng không phiền đến phiên dịch. Có lẽ là bút tích của Từ Quang Khải trao cho. Vậy nên thiên văn toán pháp nhập vào Trung Quốc khởi đầu cũng từ đây. (Từ nguyên tr.195/4)

[4] – Joannes Adam Schall Von Bell. Theo từ điển Từ Nguyên: Ông là người của hội giáo sĩ Đức vào Trung Quốc truyền giáo của thời Minh đời  Trang Liệt đế. Vua Minh đối với ông là kỳ ngộ. Sang đời vua Thanh cũng được vua rất tín dụng. Do ông tinh thông Thiên văn toán pháp ban cho chức Giám sự ở đài Khâm thiên giám. Không bao lâu nhân xẩy ra chuyện, bị giam vào ngục mà chết. (Từ nguyên tr.900/5)

[5] Nam Hoài Nhân 南 懷  仁 – Ferdinandus Verbiest. Theo từ điển Từ Nguyên: Ông là Tuyên giáo sư của hội truyền giáo Bỉ Lợi thời nhân tới Trung Quốc đầu triều Thanh để truyền giáo được Thánh Tổ  (Khang Hy) tín nhiệm, được giao chức phó đài Khâm thiên giám, chết được ban thụy là Cần Ý. (Từ nguyên tr.236/5)

1. Góp ý của bạn Nam Long:

” Em vừa comment trên trang của Bảo tàng lịch sử về bản dịch lời dẫn này:

Việc bác Mai Ngọc Hồng hiến tặng bản đồ này hết sức có ý nghĩa.

Tuy nhiên, khi tôi đọc phiên âm và bản dịch (chưa có điều kiện đối chiếu chữ Hán) được đăng tải trên đây, thấy sai sót nhiều dẫn đến toàn bản dịch rất tối nghĩa.

Những chỗ sai có thể nhận ra ngay đó là cách dịch một loạt tên các giáo sĩ. Bác Mai Ngọc Hồng tra cứu không cẩn thận, không biết họ tên các giáo sĩ được phiên âm chữ Hán ra sao khiến cho cách hiểu của bác nhầm lẫn rất lớn.

Ví dụ: giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Mạch Đại Thành – 麦大成(Cordoso)bác ngắt thành cách dịch vô nghĩa là : “bản đồ Mạch đại thành …” hoặc “Mạch đại “Thành Thang chuộng hiền” ” (riêng chỗ này, bác đã không hiểu đó là tên của 2 giáo sĩ: Mạch Đại Thành và Thang Thượng Hiền -汤尚贤(De,Tarter)). Lại nữa, tên các giáo sĩ Bạch Tấn 白晋(JoachBouvet), Lôi Hiếu Tư 雷孝思(JeanBaptisteRegis), Đỗ Đức Mỹ 杜德美( PetrusJartoux), Phí Ẩn 费隐(Fridelli),Phan Như 潘如(FabreBoujour), Phùng Bỉnh Chính 冯秉正(DeMailla), Đức Mã Nặc 德玛诺(Hinderer)… đều gặp sai lầm như trên và trở thành các cách dịch vô nghĩa như: “Bạch Tấn Lôi hiếu, Tư Đỗ Đức mỹ” hay “Phan Như Lôi hiếu, Tư Đỗ Đức mỹ”.

Ngoài ra cách ngắt câu của bác Mai Hồng Ngọc cũng cần phải xem xét lại.

Tóm lại, tôi cho rằng Bảo tàng nên rút lại bài viết này và cho dịch lại cẩn thận rồi hẵng công bố.”

2. Góp ý của tôi (Giao):

Đúng như bạn Nam Long đã góp ý ở trên, việc phiên âm tên người phương Tây ở bản dịch của thầy Mai Hồng cần phải làm lại toàn bộ. Nguyên nhân là do thầy Mai Hồng không sử dụng tra cứu trên internet, mà thầy vẫn vất vả tra theo cuốn tử điển Từ Nguyên đã quá cũ rồi và rất thiếu. Cái này, cánh trẻ bọn tôi (như Nam Long, hay tôi, hoặc ai đó), xin sẵn sàng giúp thầy tra cứu để chỉnh lí.

Chẳng hạn, một cái lỗi đầu tiên có thể thấy ngay là: tác giả bức địa đồ này không phải là người Trung Quốc, tuy tên Trung Quốc của ông ta là Sái Thượng Chất. Ông này là người Pháp, là nhà truyền giáo kiêm thiên văn học, tên chính thức là Chevalier Stanislaus.

Có tư liệu cho rằng ông Sái người Pháp này đã sang vùng Quảng Ninh và đặc biệt là Cao Bằng của Việt Nam khi ông được vua Thanh trọng dụng cho đi du lãng khắp nơi. Ông này sống đến năm 1930.

Cái tên của Sái Thượng Chất phải được sửa đầu tiên (hay chú thích thêm).

Theo Baotanglichsu

 

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s