GÓC NHÌN MỚI VỀ GIA LONG

GIA LONG NGUYỄN ÁNH

GÓC NHÌN LỊCH SỬ NÀO CHO ÔNG?

Nguồn :Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam (Viet Nam War)
Post ngảy June 14,2016

Ta sẽ bắt đầu câu chuyện này vào một ngày mùa xuân của năm 1777, Nguyễn Huệ thống lĩnh một đạo quân Tây Sơn đánh thẳng vào Gia Định. Nơi trú ẩn cuối cùng của chúa Nguyễn. Gia Định nhanh chóng thất thủ. Và cuộc tàn sát bắt đầu. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và cháu trai Nguyễn Phúc Đồng đều bị giết, chưa kể hàng chục người khác trong hoàng tộc. Trong cơn binh loạn. Chỉ có một ông hoàng duy nhất chạy thoát khỏi cuộc tàn sát.

Kẻ hoàng tộc cuối cùng của nhà Nguyễn đó tên là Nguyễn Phúc Ánh. Hay còn gọi là Nguyễn Ánh. Nhân vật của chúng ta trong câu chuyện hôm nay.

Năm đó Nguyễn Ánh 15 tuổi. Chứng kiến tất cả người thân chết về tay Tây Sơn. Ông mang trong mình một mối hận không bao giờ rửa sạch. Ông trốn về tận Cà Mau, lưu lạc ra đảo Thổ Chu. Và sau khi nghe tin Nguyễn Huệ đã rút về. Liền kéo đến Sa Đéc, Long Xuyên, đưa lời hịch kêu gọi và đến tháng 11/1777, cùng đoàn quân mang áo tang tấn công Gia Định. Và lấy lại thành.

Trong vòng 5 năm, Nguyễn Ánh thể hiện rõ tầm nhìn chính trị của mình khi sắp đặt việc quân, quản lý hành chính, lập mối bang giao với Chân Lạp, vỗ về dân chúng. Nguyễn Ánh đã biến cái tên mình trở nên ăn sâu bén rễ trong lòng dân đất Gia Định.
Năm 1782, Nguyễn Huệ lần thứ hai đánh thẳng vào Gia Định. Cùng với anh trai Nguyễn Nhạc đưa hàng trăm chiến thuyền xuống Nam. Trước sức mạnh khủng khiếp của Tây Sơn, quân Nguyễn đại bại nhanh chóng. Nhưng một lần nữa, Nguyễn Ánh lại chạy thoát. Lần này thảm hơn lần trước. Đợt này ngài phải chạy ra đảo Phú Quốc, ăn cỏ và nuốt lõi chuối để cầm hơi.

Chúng ta nói thêm về chiến dịch thứ hai này. Quân Tây Sơn mắc hai sai lầm.Thứ nhất là phá tan Cù Lao Phố (Biên Hòa hiện nay), đó là một điểm giao thương quan trọng, phồn hoa đô hội và phát triển kinh tế. Đồng thời Nguyễn Nhạc sai giết hàng trăm thương nhân Hoa kiều. Gây ra mối phẫn uất cho người Hoa và họ chuyển sang ủng hộ Nguyễn Ánh. Sai lầm thứ hai là tuy khiến Chân Lạp thần phục nhưng lại để một cánh quân ở lại đóng Gia Định rồi lại kéo về. Và Nguyễn Ánh nhân cơ hội đó, quay trở lại lần 2.

Tức giận, một năm sau, Nguyễn Huệ lại vào đánh. Lợi dụng sức gió và thủy triều, Bắc Bình Vương đánh tan hạm đội thủy quân của Nguyễn Ánh. Nhưng Nguyễn Ánh lại một lần nữa chạy thoát. Ông chạy dài ra Phú Quốc.

3 lần bị quân Tây Sơn mà cụ thể là Nguyễn Huệ đích thân cầm quân đánh không còn mảnh giáp. Trong cơn túng quẫn, thấy sức mình không đủ. Nguyễn Ánh nghĩ đến việc nhờ ngoại bang trợ giúp để lấy lại đất của tổ tiên. Và lần này là nhờ vua Xiêm. Quân Xiêm cho ông 20.000 quân và 300 chiến thuyền.

Năm 1785, quân Xiêm bước vào một trận địa mà sau này rền vang non sông. Đưa tên tuổi Nguyễn Huệ lên phần rực rỡ và khiến hình ảnh Nguyễn Ánh trở nên xấu xí: Rạch Gầm – Xoài Mút. Không cần nói thêm về Nguyễn Huệ và trận đánh này. Chỉ biết sau đó quân Xiêm “Ngoài miệng thì nói khoác mà sau lưng sợ Huệ như sợ cọp”.

Trong cơn khói lửa ngút trời ấy, Nguyễn Ánh lại vẫn chạy thoát. Thường có câu “Kẻ nào suýt chết thì sẽ sống rất dai.” Câu này chắc chắn là ứng với Nguyễn Ánh.

4 lần đại bại trước Nguyễn Huệ, kể cả nhờ ngoại bang trợ giúp. Không còn nghi ngờ gì nữa. Trên bình diện quân sự mà xét, Nguyễn Ánh không phải là đối thủ của Nguyễn Huệ. Nhưng Nguyễn Ánh cũng chỉ thua mỗi Nguyễn Huệ, chứ ông không thua Tây Sơn. Hãy để ý mỗi lần Nguyễn Ánh vùng lên, ông đều dễ dàng đánh bại quân Tây Sơn đồn trú. Và lần nào Tây Sơn cũng phải đợi Nguyễn Huệ vào “dọn dẹp”.

Quang Trung biết rõ tầm chiến lược của vùng đất Gia Định, cũng là người biết đánh giá rõ ràng nhất Nguyễn Ánh là đối thủ đáng gờm nhất của Tây Sơn sau 4, 5 lần “chết đi sống lại”. Năm 1792, ngài sắp đặt cuộc tấn công thứ 5 trong đó cắt mọi ngả đường của Nguyễn Ánh. Với kế hoạch quy mô và đáng sợ đó, Quang Trung đã gián tiếp dành lời khen cho kẻ bại tướng của mình. Nhưng khắp cả gầm trời này, cũng chỉ có Quang Trung là có khả năng tiêu diệt được Nguyễn Ánh. Không có Quang Trung, Tây Sơn không còn ai là đối thủ của Nguyễn Ánh.

Năm 1792, Quang Trung mất. Gió đã đổi chiều. Đấy gọi là chân mệnh thiên tử của Nguyễn Ánh.

Những cái chết hóa thân thành bất tử. Đấy là một trong những lý do khiến Quang Trung Nguyễn Huệ được thờ phụng. Tầm của Quang Trung vượt lên trên một khởi nghĩa nông dân thông thường. Nhưng Quang Trung mất đi, quân Tây Sơn vẫn vẹn nguyên. Tướng thì có Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng. Quân sư thì có Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…. Vậy thì kẻ đánh bại được Tây Sơn mà cả đời Quang Trung gây dựng há là kẻ tầm thường?

***

1. Vậy con người Nguyễn Ánh như thế nào?

Câu chuyện 1:
Ta thường nghe “Lê Lai cứu chúa”, khi giặc Minh truy sát Lê Lợi. Lê Lai đã khoác người chiếc áo của Lê Lợi để đánh lừa giặc Minh, chịu chết thay cho chủ. Nhưng có ai biết cho lịch sử Việt Nam còn một câu chuyện tương tự như vậy nữa không?
Tháng 6 âm lịch năm 1783, quân Tây Sơn kéo ra Đá Chồng truy kích Nguyễn Ánh. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó, một bộ tướng của Nguyễn Ánh tên là Lê Phước Điển đã dùng kế hy sinh, ông mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh. Và chịu bị Tây Sơn bắt nhầm. Giải thoát cho chủ.
=> Bạn đánh giá Nguyễn Ánh tồi tệ thế nào, tôi không cần biết. Nhưng câu chuyện về lòng trung nghĩa này khó có thể đặt ở một vị chúa bình thường.

Câu chuyện 2:
Sau trận Rạch Gầm – Xoài Mút. Nguyễn Ánh bị Tây Sơn truy kích phải trốn đi theo đường thủy qua đảo Thổ Châu rồi về Cổ Cốt với một nhóm nhỏ quân tướng. Thân tướng của ông – Nguyễn Văn Thành: người ngăn cản việc ông cầu viện quân Xiêm đã phải đi làm ăn cướp nuôi chủ và bị đánh suýt mất mạng.
=> Nguyễn Ánh phải là người thế nào mới khiến bộ tướng sẵn sàng chết vì mình như vậy? Tôi có một quan điểm riêng về người lãnh đạo: một người lãnh đạo tốt – xấu không phải theo lịch sử ghi nhận hoặc theo miệng lưỡi thế gian phán xét. Người lãnh đạo tốt là người có quanh mình những cận thần trung thành và sẵn sàng chết vì mình. Sự tôn sùng và kính trọng của kẻ dưới, chính là quy chuẩn của người lãnh đạo giỏi.

Câu chuyện 3:
Người dân miền Trung giai đoạn tranh chấp giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã lưu truyền một câu lục bát thế này “Lạy trời cho cả gió nồm / Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.” Ý câu ca dao đó là mong sao Nguyễn Ánh theo gió đưa chiến thuyền ra Bắc để đánh Tây Sơn.
=> Nguyễn Ánh là người thế nào mà ngoài người dân Gia Định. Còn một bộ phần người dân ở miền Trung và miền Bắc ủng hộ? Nếu thật sự xấu xa như chúng ta đã nghe, đã đọc, thì liệu có đáng để lòng dân phải hướng về? “Dân không thờ sai ai bao giờ”. Phải có cái gì tốt. Mới khiến dân gọi tên.
Và Tây Sơn, cuộc khởi nghĩa nông dân ấy khi có chính quyền đã mất chất như thế nào? Khi Quang Trung mất đi đã lục đục đến mức độ nào? Để khiến người dân phải lánh xa?
Đó là câu hỏi mà chúng ta cần tự hỏi mình trước khi phán xét Nguyễn Ánh.

2. Thống nhất đất nước sau hơn 2 thế kỷ nội chiến?

Sẽ không có ai rực rỡ hơn Quang Trung trong thế kỷ 18. Trong cuộc nội chiến đẫm máu của dân tộc thời đại phong kiến từ Nam Triều – Bắc Triều đến Trịnh Nguyễn phân tranh khiến bao dân lầm than oán trách. Nguyễn Huệ đã xuất hiện. Thiên tài quân sự ấy quét sạch mọi tàn dư phong kiến từ Nam đến Bắc, đánh tan nhà Trịnh, đuổi cùng nhà Nguyễn. Và thậm chí còn “thổi bay” cả hai đế quốc mạnh nhất khu vực giai đoạn ấy: Xiêm và Mãn Thanh. Với những chiến công to lớn ấy, ngài được xưng tụng ngàn đời. Và có thể coi là người dọn sạch mặt bằng Việt Nam, đặt nền móng vững bền cho dân tộc.

Nhưng.
Số phận không chọn ngài.
Số phận không chọn ngài ở 3 điểm:

1/ Trời đã lấy đi sinh mệnh của người anh hùng áo vải này quá sớm. Quá nhiều dự định dở dang.

2/ Ngài đã gieo ác với nhà Nguyễn quá nhiều. Vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790. Ngài đã gieo một cái nhân ác. Và đó là lý do cho sự trả thù tàn khốc đến tiểu nhân mà hậu thế không bao giờ tha thứ cho Nguyễn Ánh sau này. Nhưng lỗi cũng từ ngài.

3/ Tây Sơn chỉ có Quang Trung là có tầm. Chứ thực tế nó mục ruỗng từ bên trong. Mất Quang Trung là mất cột chống vĩ đại nhất của tập đoàn quân sự mạnh nhất lịch sử Việt Nam: Tây Sơn. Nguyễn Lữ chỉ là kẻ bất lực, tệ đến mức mà Nguyễn Ánh đánh đến đâu là chạy đến đấy. Nguyễn Nhạc lúc mới xuất hiện anh hùng bao nhiêu thì càng về sau càng thể hiện bộ mặt tiểu nhân ti tiện, ghen tị, dốt nát, kiêu ngạo và dâm loạn bấy nhiêu.

Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc từng chiến tranh nhỏ. Đó là sự phân rã của Tây Sơn. Tây Sơn nắm quyền nhưng lại tách ra 3 vùng. Và nó cần hoặc là Quang Trung tàn bạo như Lý Thế Dân ở Huyền Vũ Môn. Hoặc cần kẻ đứng ngoài dẹp sạch nó cho đất nước thống nhất.

Vế 1 không thực hiện được. Dù Quang Trung sẵn sàng làm điều đó nếu kế hoạch 1792 của ngài thành công. Thực hiện theo kế “Mượn đường diệt Quắc”. Nhưng như đã nói ở trên, số phận không chọn ngài. Và chiến công thống nhất dân tộc là của Nguyễn Ánh. Dù tầm vóc quân sự của Nguyễn Vương là không đủ khả năng cho việc chấm dứt Trịnh Nguyễn phân tranh lẫn đánh tan quân xâm lược hai đầu đất nước (Xiêm và Mãn Thanh). Quang Trung đã làm việc đó thay cho. Nhưng không thể nói rằng Gia Long bất tài. Chính sự kiên gan bền chí, tài năng quân sự, chính trị linh mẫn mới giúp ngài làm nên sự nghiệp sau bao lần bị vùi xuống bùn đen.

3. Nguyễn Ánh là kẻ “rước voi về giày mả tổ”?

Cũng như việc trả thù nhà Tây Sơn man rợ đến đi ngược với mọi truyền thống tốt đẹp của tổ tiên. Chuyện Nguyễn Ánh viện quân Xiêm, nhờ quân Pháp, và dự định cho hai thuyền chở lương ra cho quân Thanh là 2 chuyện mà hậu thế không bao giờ tha thứ cho Nguyễn Ánh.

Nhưng hãy chú ý. Dưới thời nhà Nguyễn, diện tích Việt Nam là rộng lớn nhất lịch sử, và trong thời Gia Long không có ai động vào được VN.

Nguyễn Ánh là một tài năng gian hùng bất chấp sĩ diện để nhờ ngoại bang khi loạn lạc. Nhưng sau khi ngoại bang không giúp gì được, ông tự mình đi lên và chiến thắng Tây Sơn đã không còn Quang Trung. Và khi ông có được dải thiên hạ nước Nam thì đó là một vị vua khác.

Chú ý cái tên Gia Long mà Nguyễn Ánh đặt rất là ý nghĩa. Gia là Gia Định. Long là Thăng Long. Ý bảo quốc gia đã liền một mối.

Lên nắm quyền. Gia Long ra uy với quân Xiêm, cùng nhau chia ảnh hưởng với Chân Lạp, ông cấm người Pháp đồn trú, hạn chế giao thương và chỉ cho một số chức quan hữu danh vô thực, không giao thương với nước Anh, đồng thời đặt yêu sách với Mãn Thanh. Không một mảnh đất nào của dân tộc thời nhà Nguyễn mất đi.

Gia Long coi trọng giáo dục. Không có một vị vua nào coi trọng giáo dục cao hơn ông. Kẻ sĩ trong tầng lớp xã hội cực kỳ được coi trọng.

Thời đại nhà Nguyễn tuyệt không thể phủ nhận hai di sản để lại cho dân tộc: thứ nhất là kiến trúc và thứ hai là văn học. Với đền đài miếu mạo ở cung đình Huế, với di sản Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thực sự thời nhà Nguyễn là một giai đoạn rực rỡ về kiến trúc và thơ văn của Việt Nam.

Chúng ta trách nhà Nguyễn “bế quan tỏa cảng”.

Không hẳn. Gia Định trấn vẫn là nơi buôn bán sầm uất. Gia Long vẫn rất phát triển các trung tâm như Hội An, Phố Hiến. Và thực tế hãy hiểu cho Gia Long ở giai đoạn này. Khi bạn nhìn sang bên láng giếng và thấy tấm gương tày liếp của Ấn Độ và Singapore nằm sờ sờ ra trước mắt (bị Anh chiếm làm thuộc địa vì để Anh vào quá sâu), nên ngài rất đề phòng với phương Tây. Kể cả việc lựa chọn Minh Mạng cũng vì Minh Mạng theo Nho học hơn là Tây Học.

Gia Long đã làm mọi cách để giữ được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc trong thời đại Nho giáo đó của ngài. Cái ngày mà Gia Long mất ông bảo Minh Mạng rằng “Con hãy cư xử lịch sự với người Pháp. Nhưng cần cẩn thận họ”.

Việc nhà Nguyễn là triều đại bị Pháp xâm lược là một vấn đề liên quan đến thời đại, không phải vấn đề cá nhân.

Nhà Nguyễn mất nước là vì tư duy quá trì trệ và thiếu đổi mới chứ không phải họ không yêu nước. Đây là một vấn đề liên quan đến bài học: một tấm gương về sự uyển chuyển phù hợp với hoàn cảnh thế giới.

***

4. Công lao của Nguyễn Ánh để cho hậu thế?

Hãy nhìn khắp cả đất nước Việt Nam này, có con đường nào mang tên Gia Long không? Chẳng lẽ thủy tổ hoàng đế của nhà Nguyễn lại không xứng đáng cho một tên đường. Bây giờ, ta hãy coi ngài đã làm được những gì nhé.

– Có một câu chuyện trong nền kinh tế thị trường ngày nay mà chúng ta để ý sẽ thấy. Các các thương hiệu lớn nước ngoài khi muốn xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Họ luôn chọn SaiGon đầu tiên. Nếu tại SaiGon mà ok thì mới tiến hành đánh ra Hà Nội. Ví dụ: KFC, McDonald’s, Starbuck…

Tại sao lại vậy?

Bởi tính người miền Nam dễ chịu và phóng khoáng. Sẵn sàng chấp nhận cái mới dễ hơn người miền Bắc. Ok. Một lý do. Lý do thứ hai là bản năng người miền Nam ngay từ khi lập quốc vốn đã “thị trường” rồi. Và bạn có biết gốc gác của nó không? Đấy là Nguyễn Ánh những năm đóng quân ở Gia Định để chống Tây Sơn. Ông biến miền Nam thành nơi sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ra toàn Đông Nam Á để đổi lấy các sản phẩm công nghiệp phương Tây, các vũ khí để đánh Tây Sơn.

Ông chính là người đặt nền móng cho kinh tế thị trường ở Miền Nam. Và văn hóa đó còn đến ngày nay.

– Hôm nay 14/3/2016, kỷ niệm 28 năm trận hải chiến Gạc Ma. Nơi Trung Quốc nổ súng chiếm đảo Gạc Ma. Đánh chìm hai tàu hải quân và bắn chết 64 chiến sĩ Việt Nam ta. Hãy dành 1 phút tưởng niệm cho vong linh những con người đã ngã xuống vì biển đảo dân tộc. Cho đến bây giờ ta vẫn thi gan với Trung Quốc ngoài bờ biển. Và vẫn nói cho thế giới biết rằng: Các tư liệu lịch sử cho thấy đây là mảnh đất tổ tiên của dân tộc này.

Vậy tổ tiên đó là ai? Đó là Gia Long.

Gia Long là vị vua đã chính thức xác định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực quần đảo Hoàng Sa khi ông chiếm đóng quần đảo này năm 1816. Nếu chưa bao giờ quên rằng “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam”, thì hãy nhớ rằng cái tên mà ta đang tranh luận là người đã lấy hai quần đảo đó về cho dân tộc.

– Một năm về trước, xảy ra vấn đề tranh chấp biên giới giữa Campuchia và Việt Nam. Campuchia đòi lại miền Tây. Chúng ta phản đối. Các anh hùng bàn phím (như thường lệ) đòi đưa 5 vạn quân qua đánh Campuchia. (IS mà còn đòi bán sim, Cam là cái chi).

Hãy cùng xem lại lịch sử.

Gốc gác ngày xưa Chân Lạp của người Khơ Me. Nhưng với tầm nhìn chính trị, quân sự, cùng sự chăm lo cho dân trong việc khai khoản đất hoang. 9 đời chúa Nguyễn và kế tục là vua Gia Long đã đưa cả dân tộc này phát triển từ Phú Yên đi tận đến Châu Đốc, Cà Mau. Một mảnh đất trù phú xứng đáng “rừng vàng biển bạc”.

Một Việt Nam rộng nhất lịch sử mà chẳng cần đòi Lưỡng Quảng. Một dòng tộc nhà Nguyễn đã mở rộng số diện tích cho dân tộc hơn cả 5 triều Đinh, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê cộng lại. Chưa kể là các công trình khai khẩn đất hoang ở các tỉnh Thái Bình và Ninh Bình trong thời đại này. Và đặc biệt là kênh Vĩnh Tế có giá trị lớn về các mặt trị thủy, giao thông, thương mại, biên phòng.

Cái công sức kỳ vĩ đó không xứng đáng để đặt tên đường ư? Hãy tự vấn lương tâm của mình.

***

Kết luận:

Nhà Nguyễn tồn tại gần 150 năm. Trong gần 150 năm ấy, sử sách gần như lãng quên Quang Trung. Nhưng người dân vẫn thầm lặng thờ cúng và kể các câu chuyện về vua Quang Trung.

Bây giờ chúng ta lại đang thấy người ta lãng quên đi Gia Long. Sự lãng quên Quang Trung bởi Quang Trung thuộc về nông dân trong thời đại quý tộc cầm quyền.

Sự lãng quên Gia Long là vấn đề vô sản mác xít. Nhưng lịch sử là câu chuyện của lịch sử. Hậu thế chúng ta thời đại bây giờ cần nhìn về cha ông với cái nhìn công bằng nhất. Đã có một người tạo cho đất nước Việt Nam thế cong cong hình chữ S ngày hôm nay.

Cái gì cũng vậy, luôn có mặt tốt, mặt xấu. Không có gì tốt hoàn toàn, chẳng có gì xấu hoàn toàn.

Bên cạnh Quang Trung có những người sẵn sàng chết vì ông, thì bên cạnh Gia Long cũng có người suốt 25 năm bôn ba chịu bao đắng cay khổ nhục cùng Gia Long.

Và từ cậu bé 15 tuổi luôn bị truy sát, không một tấc đất, chỉ vài ba tùy tùng, sống bằng ngọn cỏ, lõi chuối vẫn vùng lên đánh bại kẻ thù, làm vua thiên hạ, lấy được một dải đất từ Nam chí Bắc. Thì người đó đừng bảo họ tầm thường. Cỡ anh Leonardo DiCaprio trong phim mới đoạt giải Oscar vừa qua hay vụ trở về từ cõi chết của “Bá tước Monte Cristo” chỉ là … muỗi so với Gia Long.

Than ôi ! Treo lên đỉnh cao vạn trượng không thấy Quang Trung đâu.
Nhìn khắp góc bể tự hỏi Gia Long nơi nào.

Hai con người ấy, cùng nhau tạo dựng nên một phần lịch sử dân tộc.
Hậu thế nhìn về với bao nhiêu cảm khái. Hận thù nhau tro bụi lịch sử làm cái gì cơ chứ?

(Theo © Dũng Phan
SaiGon 14 /3 / 2016.
Nguồn: The X File Of History)

 

Image may contain: one or more people
Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH CẢI CÁCH

ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH CẢI CÁCH
Tác giả:Thầy Phêrô PHẠM CÔNG THUẬN (1950-2015)
Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn

Cách đây trên 10 thế kỷ, Đức Đạt Ma Thiền Sư từ Ấn Độ sang Trung Quốc truyền bá đạo Phật, thâu nhận nhiều đệ tử. Nhưng vì có những xung đột thường xuyên với đạo cũ của nhân dân, nên các đệ tử học võ để tự vệ. Khi học võ có một số đệ tử sức khỏe yếu kém không tập được, nên Đức Đạt Ma Tổ Sư truyền dạy một phương pháp tập luyện gọi là “DỊCH CÂN KINH” để tăng thể lực cho các đệ tử.

Ngày nay qua nhiều nghiên cứu, y học Trung Quốc nhận thấy rằng phương pháp này có thể trị được rất nhiều bệnh, nhưng muốn việc trị bệnh được nhanh chóng và hiệu quả hơn thì phải đổi thế đánh tay, nên được gọi là “Dịch Cân Kinh Cải Cách”.

Đây là một Phương Pháp trị bệnh không dùng thuốc, kể cả một số bệnh nan y như: Chàm (exzéma) – Huyết áp cao – Huyết áp thấp – Suy nhược thần kinh – Suyễn – Ung Thư (giai đoạn 1) – Viêm mũi dị ứng – Viêm thấp khớp – Xơ cứng động mạch – Xơ gan (giai đoạn 1) – Các bệnh về Tim – Gan – Thận – Hệ Tuần Hoàn – Hệ Hô Hấp – Hệ Tiêu Hóa – Phụ Khoa, vv…

XIN ĐỌC THẬT KỸ CÁC PHẦN DƯỚI ĐÂY TRƯỚC KHI TẬP
· Tư Thế: (xem hình vẽ)

1. Đứng hai bàn chân song song và dang rộng khoảng 30 cm.
2. 10 ngón chân bấu xuống đất, gồng cơ đùi – cơ mông và nhíu hậu môn.
3. Đầu, mình và chân phải thẳng, không được cúi ra trước hoặc ngửa ra sau trong lúc tập (như vậy hai chân thì gồng cứng, còn thân mình kể cả 2 cánh tay thì thả lỏng.
4. Mắt nhìn thẳng vào một điểm trước mặt, không xoay qua xoay lại.
5. Hơi thở binh thường (không theo nhịp đánh tay).
6. Tâm trí không được suy nghĩ vẩn vơ, phải tập trung vào việc đếm số lần đánh tay.
7. Thường xuyên kiểm tra lại việc gồng cứng các cơ chân và nhíu hậu môn.

· Cách Tập:

Sau khi đã chuẩn bị tư thế xong thì:
– Đưa hai tay song song ra trước, ngang tầm thắt lưng, bàn tay rũ xuống (các ngón tay không duỗi thẳng, không được chạm vào nhau, không được gồng), lòng bàn tay hướng xuống đất, hạ hai tay xuống ngang đùi thì lật ngang bàn tay (lòng bàn tay hướng vô đùi) và hất mạnh tay ra sau – đây là thế “Cải cách” – còn “Đạt Ma Dịch Cân Kinh” thì lòng bàn tay hướng ra sau, cách này dễ tập hơn, nhưng chậm kết quả hơn – Cố gắng giữ hai tay song song, đừng để bẹt ra quá. – Sau đó dùng một lực nhẹ đưa tay về phía trước, lòng bàn tay hướng xuống đất. Cứ tiếp tục đánh đều như vậy cho tới khi đủ số mới ngưng tập.

– LƯU Ý: Đọc thì thấy hơi chi tiết rườm rà, nhưng tập thì rất đơn giản.

· Cơ Chế:

Trong cuộc sống hằng ngày, con người thường chìm đắm trong danh lợi, lo quanh nghĩ quẩn, buồn phiền, ích kỷ, ganh ghét, hận thù, lại thêm tửu sắc vô độ, coi thường dinh dưỡng. Họ chỉ thấy lợi nhỏ mà quên hại lớn. Lo làm giàu vật chất mà quên tu dưỡng tinh thần, vì thế tâm trí đảo điên (STRESS), thân thể suy đồi, bệnh tật do đó mà sinh ra. Thêm vào đó, mỗi ngày cơ thể chúng ta bị nhiễm độc do đồ ăn, thức uống, thuốc tây chứa đầy hóa chất. Chất độc vào ngày càng nhiều, gây ứ nghẽn chỗ này, bế tắc chỗ kia, trăm bệnh nổi lên. Khi tập, tâm trí tập trung vào các động tác tay, không suy nghĩ vẩn vơ, thần kinh được thư giãn, được ổn định từ từ. Khi hất mạnh tay ra sau, vai, lưng ngực, bụng giật lên. Khi đưa tay về trước thì vai, lưng, ngực, bụng hạ xuống. Đó là hình thức xoa bóp sâu các nội tạng, các hệ cơ ngực, bụng, và hệ cơ lưng, nơi đây, theo Y Học Hiện Đại, từ cổ tới mông, dọc hai bên cột sống có 33 đôi dây thần kinh tạo thành Hệ Thần Kinh Thực Vật giữ nhiệm vụ vô cùng quan trọng: điều khiển sự ổn định môi trường bên trong cơ thể (nội môi).

Theo học thuyết YOGA của Ấn Độ, dọc theo đường giữa cột sống lưng – đầu – ngực – bụng của chúng ta có những điểm gọi là Luân Xa. Các Luân Xa này hút lấy sinh khí của trời đất, năng lượng của vũ trụ để tăng sức sống, tăng sức đề kháng cho cơ thể chống lại mọi bệnh tật.

Theo học thuyết KINH MẠCH của Trung Quốc, cơ thể chúng ta có 12 đường Kinh Chính gồm 6 đường Kinh Âm và 6 đường Kinh Dương. Các đường kinh này đều đi qua VAI – LƯNG – NGỰC – BỤNG. Ngoài ra, phần ngực – bụng còn có mạch Nhâm giữ nhiệm vụ liên hệ với 6 đường KINH ÂM và điều hòa phần âm của cơ thể, Mạch Xung và Mạch Đới liên quan nhiều đến sinh lý và bệnh lý của phụ nữ, phần lưng có Mạch Đốc liên hệ với 6 KINH DƯƠNG và điều hòa Dương Khí toàn thân, Kinh Túc Thái Dương Bàng Quang có các Du Huyệt liên quan đến lục phủ ngũ tạng.

Tóm lại, cả Y Học Hện Đại Phương Tây và Y Học Cổ Truyền Phương Đông đều nhìn nhận: vùng VAI – LƯNG – NGỰC – BỤNG có những hệ Thần Kinh, hệ Kinh Mạch và Hệ Luân Xa vô cùng quan trọng cho sự sống con người. Phương pháp này là một phương pháp Tự Xoa Bóp tác động chủ yếu vào VAI – LƯNG – NGỰC – BỤNG và LỤC PHỦ NGŨ TẠNG làm cho thần kinh hưng phấn, làm thông thoáng các luân xa, làm đả thông các kinh mạch, đưa thêm máu nuôi vào các cơ quan, đặc biệt là Não, đồng thời loại thải các chất độc ra bên ngoài bằng đường Mồ Hôi, đường Tiều và đường Hô Hấp. Tuần hoàn khí huyết được thông, thần kinh được ổn định, việc điều khiển các cơ quan nội tạng hoạt động được tốt hơn, sức đề kháng tăng giúp cho khả năng “Tự Điều Chỉnh” (auto – regulation) của cơ thể mạnh lên để ổn định lại các rối loạn, lập lại thế quân bình Âm Dương trong cơ thể thì chắc chắn trăm bệnh sẽ tự lui, tự biến mất, đem lại cho mọi người một sức khỏe thật tuyệt vời, một cuộc sống thật tươi vui, hạnh phúc và một xã hội phồn vinh.
THÂN CƯỜNG, BỆNH NHƯỢC THÂN NHƯỢC, BỆNH CƯỜNG THỐNG TẮC BẤT THÔNG THÔNG TẮC BẤT THỐNG

· HIỆU QUẢ THẬT DIỆU KỲ

1. Bản thân tôi (người phổ biến cách tập này) bị viêm mũi dị ứng liên tục trong suốt 10 năm. Hằng đêm vào khoảng 3-4 giờ sáng, tôi bị hắt xì mấy chục lần, đồng thời nước mũi chảy ra ướt đẫm 2-3 khăn tay. Khi mặt trời lên cao, khoảng 9-10 giờ thì mũi khô và không bị hắt xì nữa. Mỗi lần quét nhà hít phải bụi hoặc tình cờ hít phải khí độc (tà khí) thì lập tức tôi bị hắt xì và nước mũi chảy ra, rất khó chịu. Uống bao nhiêu thuốc, đi bao nhiêu thầy cũng không khỏi. Từ khi biết bài tập “Dịch Cân Kinh” này, tôi tập 2 lần mỗi ngày, 1800 cái /1 lần / 30 phút, trong suốt 1 năm (1992) và khỏi hẳn từ đó đến nay, không hề tái phát trở lại. Tôi chỉ kiên trì tập mà thôi, không dùng bất kỳ loại thuốc nào cả. Vừa tập vừa phải kiêng cữ ăn, uống đồ lạnh và hút thuốc. Kết quả thật diệu kỳ.

2. Tôi cũng bị đau bao tử, đau lâm râm vùng thượng vị (gần chấn thủy). Nhờ tập bài này, tôi không còn bị đau nữa. Ăn đồ chua không còn thấy khó chịu nữa.

3. Năm 1986, tôi bị đau thần kinh tọa cả hai chân (thường chỉ bị nột chân). Xách đồ nặng, đạp xe, ngồi ghế cứng đều đau. Đứng chưa tới 5 phút hai bắp chân muốn rã ra, mỏi ghê gớm, phải ngồi thì mới đỡ. Những đêm trời lạnh đau nhức lắm. Ít có đêm nào được an giấc, nằm thế nào cũng đau nhức từ mông xuống tới bàn chân. Để chân xuống giường (vạt giường) không tới 1 phút thì có cảm giác nóng rát như bị lửa đốt, bị phỏng, không thể nào chịu được, phải gác 2 chân lên 1 cái mền, hoặc 1 cái gối thì mới đỡ. Bị như vậy trong nhiều năm, tôi vẫn kiên trì tập luyện “Dịch Cân Kinh” từ năm 1992 và kiêng cữ: không xách nặng, không đi xe đạp, không dùng quạt máy (tránh chỗ nhiều gió), không ngồi ghế cứng, không ăn đồ phong (bò, gà, đồ biển, măng, các loại mắm, và các loại cà) và không tắm nước lạnh. Tôi cũng không dùng một loại thuốc nào cả mà cũng không có châm cứu nữa. Từ năm 1997 đến nay, tôi đã khỏi hoàn toàn. Bây giờ tôi có thể đứng 1-2 tiếng không sao cả và cũng không còn nhức nhối gì nữa cả.

4. Tôi còn mắc 1 bệnh nan y nữa, đó là bệnh dị ứng. Mỗi khi ăn đồ biển, đồ phong (cá, bò, gà, vịt…) là tôi bị nổi ngứa. Hơn nữa, 1 năm 2 lần, từ mùa nắng sang mùa mưa và ngược lại (chuyển mùa) thì người tôi sưng phù, mắt môi sưng to, ăn rất khó, da thịt căng cứng, người nặng nề và ngứa rất khó chịu. Tôi bị dị ứng thức ăn, khí độc và cả thời tiết nữa. Uống nhiều thuốc, chữa nhiều thầy, bà con chòm xóm, người thân chỉ giúp cách này, cách nọ cũng không hết. Nhưng khi tập bài “Dịch Cân Kinh” này được 2 năm (1992 – 1994) thì từ đó đến nay, tôi không còn bị xưng phù như trước nữa, khỏi hẳn luôn.

5. Tôi cũng bị chàm (eczema) ở mu hai bàn chân suốt trên 10 năm. Lúc đầu tôi uống thuốc, bôi thuốc thì đỡ ngứa, nhưng không hết hẳn. Sau đó tôi không dùng thuốc nữa, chỉ kiên trì tập bài “Dịch Cân Kinh” này mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút, đồng thời kiêng cữ không ăn đồ ăn phong (bò, gà, đồ biển, măng), không dùng xà bông, bàn chải để chà rửa và mỗi ngày uống trên 2.5 lít nước. Tập được 2 năm, tôi đã khỏi hẳn. Hiện nay, 2 bàn chân không còn dấu vết gì của chàm nữa. Thật diệu kỳ!

6. Qua những kết quả diệu kỳ vừa nêu trên, đối với bản thân tôi, tôi quí bài tập này hơn vàng, hơn cả ăn nữa, nên tôi xin mạnh dạn giới thiệu tới mọi người phương pháp “Dịch Cân Kinh Cải Cách” này để giúp quí ông bà, anh chị em chúng ta tìm lại cho mình một sức khỏe thật tốt, một gia đình thật yên vui, hạnh phúc và một xã hội ngày thêm tốt đẹp hơn.

Thầy thuốc hay nhất là chính mình

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý (nên đọc thật kỹ trước khi tập):

1. Phải luôn kiểm tra: hai bàn chân song song – bấu 10 ngón chân – gồng cứng cơ mông – cơ đùi – nhíu hậu môn.

2. Hai tay luôn thả lỏng – khi bắt đầu tập, đánh chậm và nhẹ vài chục lần, sau đó đánh nhanh. Vài phút đầu, đánh xuôi tay, sau đó đánh lật ngang bàn tay (thế cải cách). Tuần lễ đầu, mỗi lần tập tối đa là 200 cái thôi (tay ra trước là đếm). Sau đó mỗi ngày tăng thêm 1 phút cho mỗi lần tập, cho đến khi đạt được 1800 lần / 30 phút / 1 lần tập (1 nhịp đánh tay – tay ở trước đánh ra sau, rồi trở về lại đằng trước – 1 giây), và cứ giữ như vậy đến suốt đời. Đối với người bị bệnh nặng như ung, bướu…thì có thể đánh 3000 – 4000 lần / 60 phút / 1 lần tập, 2 – 3 lần 1 ngày.

Lưu ý: Khi tập thấy chân tê, hai bàn chân nóng ran thì ngưng.

3. Thở bình thường, không theo động tác tay.

4. Tâm trí không được suy nghĩ vẩn vơ, phải tập trung vào việc đếm số lần đánh tay và kiểm tra các cơ chân và việc nhíu hậu môn.

5. Khi tập, vai – lưng – ngực – bụng phải giật mạnh lên thì mới có khả năng trị bệnh, nếu không thì không có hiệu quả. Theo kinh nghiệm trong tháng đầu, vai, hông có thể đau, đừng sợ, cứ tiếp tục tập, sẽ hết.

6. Trong ngày, có thể tập được 4 lần, tối thiểu phải 2 lần. Sáng (khi thức dậy) tập quay mặt hướng Đông, Trưa (trước cơm) quay hướng Tây, Tối (trước khi ngủ) quay hướng Nam. Nhớ luôn luôn: tập khi bụng đói. Uống ½ lít nước ngay trước khi tập. Ăn xong 3 giờ sau mới được tập. Tập xong ½ giờ sau mới được tắm. Khi đang tập hoặc tập xong mà cảm thấy mệt là tập sai hoặc tập quá sức mình, nên xem lại tài liệu thật kỹ (phần: “Những điều cần lưu ý”). Nếu tập đúng và vừa sức mình, thì khi tập xong, cảm thấy khỏe hơn nhiều so với lúc chưa tập, và ăn, ngủ rất ngon.

7. Trong mỗi lần tập, không nên tập ngắt quãng, nghĩa là tập vài phút, rồi nghỉ vài phút, sau đó lại tập tiếp, như vậy không kết quả.

8. Nên tập nơi thoáng mát, yên tĩnh, không có gió luồng. Khi tập không được ở trần, nên mặc đồ mỏng, nhưng không bó sát người.

9. Không nên nôn nóng mà phải từ từ tiến lên, tuy chậm nhưng đem lại hiệu quả rất diệu kỳ. Nôn nóng tiến nhanh sẽ có hại “DỤC TỐC BẤT ĐẠT”.

10. Trong sinh hoạt hằng ngày, cố gắng đừng để thần kinh căng thẳng (nguyên nhân của rất nhiều bệnh) và hạn chế tối đa: rượu, cà phê, thuốc lá, bột ngọt, đường trắng tinh, mỡ động vật, đồ ngọt, đồ chiên xào, đồ nướng, thực phẩm đóng hộp…v.v…Nên ăn ít chất béo, ít thịt, ăn nhiều rau và trái cây tươi, mỗi ngày nên uống nước đun sôi để nguội từ 2 lít đến trên 2.5 lít (chia làm nhiều lần từ 8 – 10 ly), thường xuyên tập luyện, hít thở, nên gần với “Thiên Nhiên” càng nhiều càng tốt thì chắc chắn tinh thần sẽ an vui, thanh thản và sức khỏe sẽ tuyệt vời – “TRƯỜNG SINH BẤT LÃO”.

11. Nếu tập trên nền đất thì nên đi chân không, nếu tập trên nền xi măng, gạch bông thì phải mang dép hoặc tấm chùi chân (thường để ở cửa nhà).

12. Nếu ngưng tập một thời gian dài (vài tháng trở lên), khi tập lại phải tập lại từ đầu, nhưng có thể tăng số lần đánh tay nhanh hơn người mới tập.

· NHỮNG PHẢN ỨNG:
Tập phương pháp này có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải chất độc và ổn định những rối loạn trong cơ thể. Đừng sợ mà ngưng tập, đó là dấu hiệu tốt.
Xin liệt kê một số phản ứng thường gặp:
1. Cảm giác rần rần như kiến bò.
2. Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân đen (bệnh nặng như ung thư).
3. Ngứa (từng chỗ hoặc toàn thân).
4. Ra mồ hôi.
5. Tiểu nhiều.
6. Trung tiện (đánh rắm, địt).
                                                   HẾT
*************************************************
 

 

 

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

DANH SÁCH TỈNH TRƯỞNG BÌNH LONG TỪ 1956 ĐẾN 1975

Bài viết mới được cập nhật hình ảnh và tin tức
Mời xem

http://nhotrunghocbinhlong.blogspot.com/2016/01/ds-tinh-truong-binh-long-truoc-1975.html 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

HÀ TĨNH SỨ QUÂN

Hà Tĩnh Sứ Quân.

Tác giả :Bùi Thanh Hiếu
Nguồn :nguoibuongio1972.blogspot.co.uk

Nói đến Formosa và Hà Tĩnh, người ta chỉ nhắc đến một cái tên. Đó là Võ Kim Cự, bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Tất cả mũi chỉ trích của dư luận đều nhằm vào Võ Kim Cự, nhưng dường như Cự có một lá chắn màu nhiệm, cả một luồng dư luận sôi sục đòi xét tội Cự đều không đi đến đâu. Và cùng với Cự, Formosa vẫn bình chân như vại sau khi gấy ra thảm hoạ môi trường chấn động nhất trong lịch sử Việt Nam.

Năm 2008  Formosa vào Hà Tĩnh, Cự là trưởng ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng, phó chủ tịch tỉnh. Khi sự việc Formosa bùng nổ, mọi quy kết đều dồn cả vào Cự liệu có đầy đủ hay chưa.? Lúc đó cấp trên của Cự là ai, hiện giờ ông ta ở đâu mà không ai nhắc đến.

Cấp trên của Cự lúc đó là Nguyễn Thanh Bình, bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh kiêm chủ tịch hội đồng nhân dân Hà Tĩnh từ năm 2007 đến năm 2015. Suốt quá trình Formosa vào Hà Tĩnh là quãng thời gian dài gần trọn hai nhiệm kỳ, Nguyễn Thanh Bình là quan chức lớn nhất ở địa phương này. Việc lên án Cự mà không nhắc đến Bình là một điều khó hiểu. Dường như cả dư luận đều bị bịt mắt hay bị đánh lạc hướng khiến vị quan chức này được yên thân.
nguyen-thanh-binh-ha-tinh-su-quan

Nguyễn Thanh Bình, ông vua thực sự của Hà Tĩnh suốt hơn mười năm qua và còn ảnh hưởng thực sự đến tận bây giờ. Sau khi tạo thuận lợi để Formosa vào Hà Tĩnh, ảnh hưởng của Bình lớn đến nỗi ở nhiệm kỳ thứ hai, Bình là người đầu tiên trong cả nước được địa phương bầu trực tiếp làm lại bí thư Hà Tĩnh vào chiều ngày 9/9/2010. Ngay tối hôm 9/9 Bình mở ngay phiên họp đầu tiên của ban thường vụ tỉnh uỷ và tiếp tục cất nhắc Cự làm phó bí thư tỉnh uỷ.

Đến năm 2015 Bình được Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Tổ Chức Trung Ương đưa ra Hà Nội làm phó ban tổ chức trung ương đảng. Cuộc điều động luân chuyển cán bộ lần này hoàn toàn nằm dưới sự điều khiển của Nguyễn Phú Trọng . Bởi thế trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa chỉ về Hà Tĩnh đọc lệnh cất nhắc Bình và chấp nhận lời đề nghị của Bình cho Cự làm bí thư Hà Tĩnh.

Việc Nguyễn Thanh Bình trước kia được đại hội địa phương bầu trực tiếp làm bí thư đã hiếm, nhưng chuyện khi Bình đi rồi , để lại lời đề nghị người tiếp nối mình mà được phê chuẩn càng hiếm hơn. Qua đó cho thấy quyền lực của Bình ở địa phương là tuyệt đối.

Bình ra Hà Nội làm phó ban thường trực đầy quyền lực trong đảng, tương lai  vài năm tới sẽ thay thế Phạm Minh Chính ở chức này  và vào Bộ Chính Trị. Một nhân vật liên can nhiều nhất đến Formosa như Bình đang ở vị thế quan trọng và tương lại còn quan trọng hơn như thế, bảo sao vụ Formosa không có ai nhắc đến tên Bình, bảo sao Formosa và Võ Kim Cự như có tấm lá chắn thép che đỡ.

Tại biểu công bố quyết định đưa Bình ra Hà Nội  lên chức mới  đầy quan trọng là phó trưởng ban thường trực ban tổ chức trung ưởng đảng và Võ Kim Cự nhận chức bí thư Hà Tĩnh. Thay mặt bộ chính trị, Tô Huy Rứa phát biểu ca ngợi thành tích của hai con người này đã, có công đưa Hà Tĩnh thu được những thành tựu nổi bật.

Thành tựu đó là gì, ngoài sự phát triển nổi bật của Formosa trong thời kỳ Bình, Cự lãnh đạo Hà Tĩnh.

Từ khi tái đắc cử Tổng Bí Thư, Nguyễn Phú Trọng luôn mồm nhấn mạnh công tác tổ chức cán bộ, tiêu chí chọn cán bộ, đạo đức, năng lực cán bộ đảng…  cán bộ trong sạch, không có tư lợi riêng cho gia đình, người thân, bè phái, lợi ích nhóm.

Thế nhưng chuyện cả họ làm quan lại nhiều nhan nhản hơn khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Và ngay cả ngay sát cạnh ông Trọng , chẳng cần đâu xa. Nguyễn Thanh Bình chính là loại cán bộ điển hình lợi ích nhóm, phe phái, cục bộ địa phương. Sỡ dĩ không làm được gì Võ Kim Cự vì Cự là người Bình đưa lên. Xử lý Cự phải xử lý cả Bình, xử lý Bình thì phải xử lý cả người đã đưa Bình ra Hà Nội làm phó ban tổ chức trung ương.  Có nghĩa Trọng phải tự xử lý mình. Công tác cán bộ điều động, luân chuyển có vấn đề tiêu cực ở quá gần Nguyễn Phú Trọng, ông ta không xử lý còn đi xử lý tận đâu đâu.

Vào giữa năm 2016 ở Hà Tĩnh nổi lên vụ cảnh sát đánh người yêu cũ và chồng sắp cưới của cô gái tàn bạo, có tổ chức, tính chất tàn bạo, công khai giữa ban ngày, coi thương pháp luật. Thế nhưng vụ việc bỗng nhiên êm ả , vì nạn nhân làm đơn xin bãi miễn hành vi của viên cảnh sát trẻ này.

Viên cảnh sát đó tên là Phan Văn Hưng, người huyện Cẩm Xuyên, cùng quê với Nguyễn Thanh Bình. Hưng là con của bà Nguyễn Thị Bảo Ngọc  phó chủ tịch huyện Cẩm Xuyên.  Bà Nguyễn Thị Bảo Ngọc là anh em con chú, con bác với Nguyễn Thanh Bình. Chỉ từ một cán bộ văn hoá xã đi phát báo nhờ ông anh Bình mà thành phó chủ tịch huyện và còn cơ hội đi tiếp cao nữa.

Ở Hà Tĩnh không chỉ mỗi mình bà Ngọc có quan hệ họ hàng với Nguyễn Thanh Bình. Có thể liệt kê nhiều chức vụ, tên tuổi khác như

Nguyễn Văn An, em ruột Bình là phó giám đốc công an tỉnh.
Trần Văn Sơn, em rể Bình làm chỉ huy quân sự tỉnh.
Nguyễn Văn Thắng, em họ  Bình làm  chánh án toà án tỉnh
Nguyễn Quốc Hùng, con rể làm trưởng công an thành phố Hà Tĩnh.
Nguyễn Văn Quý, em họ làm chủ tịch hội đồng nhân dân Hà Tĩnh.

Nguyễn Quốc Hùng hàm còn đại uý đã nhận chức trưởng công an thành phố, trong khi còn bao nhiêu phó trưởng khác hàm trung tá phải ngậm ngùi , cay đắng đứng nhìn ông con rể ngài phó ban tổ chức trung ương đảng leo qua đầu.

Còn nhiều chức vụ quan trọng cấp huyện, cấp sở ở Hà Tĩnh  do họ hàng, thông gia nhà Nguyễn Văn Bình nắm giữ như Nguyễn Văn Cương, Dương Văn Tuấn, Dương Thạch….những tên tuổi này đã từng dính dáng đến những vụ việc um xùm dư luận như đội cảnh sát giao thông huyện Kỳ Anh lông hành cho mình có quyền riêng thu luật, vụ phá sản doanh nghiệp 666, vụ làm 2 km đường quốc lộ 1 A qua Hà Tĩnh…

Với một mạng nhện họ hàng dày đặc giăng ở Hà Tĩnh như thế, cộng với chức thường trực phó ban tổ chức trung ương đảng cao ngất trời. Nguyễn Thanh Bình thực sự là sứ quân đầy quyền lực ở Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Phú Trọng trả lời sao về công tác cán bộ của đảng mà ông đang hô hào là cải tiến chất lương , đạo đức, trong sáng, loại trừ bè phái, lợi ích nhóm. ?

Ông Trọng sẽ không trả lời, vì Nguyễn Thanh Bình là nhân sự quan trọng nằm trong bè phái của ông.

Bài viết này không hy vọng gì Nguyễn Phú Trọng làm sáng tỏ công tác cán bộ như miệng ông ta thường rao giảng. Bài viết chỉ muốn phần nào giải thích cho dư luận thấy, một khía cạnh đã làm cho Formosa tung hoành không hề e sợ pháp luật, văn hoá Việt Nam, Võ Kim Cự không rụng cọng lông chân, các đập thuỷ điện ở Hà Tĩnh vô tư xả nước gây lũ lụt, công an Hà Tĩnh tự tung, tự tác thu tiền xe trên đường quốc lộ.

Thật bi hài, trong khi người dân Hà Tĩnh khốn khổ trong lũ lụt và thảm hoạ Formosa, cả nước cùng quan tâm. Những người có lòng nhân hậu kêu gọi đóng góp, ủng hộ đồng bào Hà Tĩnh. Họ vì lòng tốt của mình mà bị chuốc mọi điều tiếng, đe doạ.

Thì họ hàng làm quan chức Hà Tĩnh  của phó ban tổ chức trung ương đảng Nguyễn Thanh Bình ở đâu, thưa ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

THÁNG TƯ Ở ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Xin giới thiệu bài viết về trận chiến An Lôc ,do cựu hs THBL viết vào tháng 3-2016 để tưởng nhớ những giờ phút kinh hoàng tại An Lộc tháng 4-1972

THÁNG 4 Ở AN LỘC, ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Phạm Thị Phú Thịnh
Phạm Tân Lập Phú

 

Dù chỉ cách Sài Gòn hơn một trăm cây số, mà Bình Long ngày đó đối với mẹ tôi xa xôi lắm. Người ta gọi Bình Long là chốn rừng thiêng nước độc.

Ngày ấy Ban Quân Y của Bố tôi nằm ở cửa ngõ từ Xa Cam vào An Lộc, bên cạnh chùa Miên, một ngôi chùa đầy huyền thoại. Phải cố thuyết phục lắm mẹ tôi mới đưa 2 anh em tôi từ Sài Gòn lên sống ở chốn khỉ ho cò gáy này. Đời Quân ngũ xa nhà, bố tôi đã phải lòng một cô gái đẹp, con một của ông bà bán hàng cơm tháng ở chợ Cũ. Để được lòng người đẹp, ông không ngần ngại nói dối là mình di cư từ Bắc vào Nam, đã phải để người vợ và 2 con nhỏ kẹt lại ở tận một miền Bắc xa xăm. Đến khi cha mẹ cô gái ấy cứ bắt làm đám cưới, sợ quá, ông mới tìm đủ mọi cách đưa vợ con lên, và thú tội. Lúc đó dù chỉ mới vài tuổi đầu tôi cũng được nghe và hiểu chuyện. Tội nghiệp và với lòng thương cảm cô ấy đã viết một là thư thật dài cho Bố, và mong Bố quên mình đi và trở về với gia đình. Bây giờ ngẫm lại, không biết tôi có được một chút đỉnh gì đó trong cái tính của Bố không?

 

Đất Bình Long đỏ thắm, rừng thì xanh thẫm ngút ngàn. Ở đâu cũng thấy những người dân chân thật, hiền hòa và hiếu khách, từ người phu cạo mủ trong đồn điền. Tuổi thơ của anh em chúng tôi là những ngày an lành. Có trốn học, có đánh nhau, có biết thầm thương trộm nhớ, có hẹn hò và mơ mộng vẩn vơ…. Biết nhìn mây trời, phố núi để thả hồn vào chốn đâu đâu. Tôi cũng biết theo bố mẹ đi Chùa nghe kinh lễ Phật và mặc chiếc áo lam. Ngôi chùa Từ Quang của tôi có cái giếng thật gần và mát lạnh mà chỉ thò tay đã với tới nước. Sự bạo tàn của chiến tranh năm 1972 bom đạn đã xóa mất hoàn toàn đi ngôi Chùa của tuổi thơ ngày ấy, giờ chỉ còn trong tâm tưởng và trí nhớ.

 

Bình Long vào những ngày yên bình đã có những phát triển kinh tế đáng kể, nhất là từ khi người Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam. Nhà máy của Công Ty Điện Lực Việt Nam xây ở bến xe chợ mới phát điện ngày đêm, bù lại với những ngày của những năm 1966 dòng điện yếu ớt chỉ phát đến 9 giờ đêm. Sau 9 giờ tối là tôi phải thắp ngọn đèn dầu ngồi bên cửa hầm để học luyện thi vào Đệ Thất. Hầu như tất cả mọi nhà đêm đến đều ngủ trong trong hầm, vì cứ về đêm lại bị Việt Cộng pháo kích vào thành phố từ những cánh rừng. Những năm ấy cái TiVi công cộng đầu tiên được đặt ở công viên chợ cũ, mở cho dân xem mỗi đêm, đã lôi cuốn lũ trẻ chúng tôi có chỗ tụ tập để vui đùa, để thay vào những đêm chiếu bóng công cộng ngoài trời với những phim như: Ba Chàng ngự lâm pháo thủ, Binh Mập Binh Ốm…đã một thời làm lũ con nít chúng tôi say mê đến bỏ ăn bỏ ngủ.

Người Mỹ đến Việt Nam ngày lúc càng đông. Khu vực Đồn Điền Quản Lợi được chọn làm nơi đóng quân của Sư Đoàn 1 Không Quân Hoa Kỳ. Học sinh Trung Học Bình Long chúng tôi được quân đội Mỹ ưu ái cho thành lập đoàn Hướng Đạo Mỹ. Đợt ban đầu, qua Ty Thanh Niên họ chọn cứ mỗi lớp các học sinh từ hạng nhất đến hạng 5 để gia nhập. Mỗi cuối tuần họ ra Bình long đón chúng tôi bằng xe GMC vào căn cứ quân sự trong Quản Lợi, sinh hoạt ca hát, ăn cơm với lính và xem phim Cao Bồi, uống Cola. Có lẽ từ đó tôi ghiền Cola cho đến bây giờ. Cứ vài tuần, khi không cần dùng phi cơ cho chiến sự, chúng tôi lại được đưa ra Long Hải hoặc Vũng Tầu vào những căn cứ quân sự  của họ và sống chung với những người lính. Đứng xếp hàng lấy phần ăn với một cái khay có lẽ còn to hơn tôi lúc ấy, mà món nào cũng lạ, béo ngậy và rất khó mà ăn, nhìn vào đã thấy chóng cả mặt rồi, đối với những người thật kén ăn như tôi.

 

Tháng 4 năm 1972 tôi đang học lớp 10.

Lớp học vắng dần theo nhịp độ pháo kích mỗi ngày mỗi gia tăng của giặc. Chúng tôi biết chiến tranh đã đến thật gần, khi Lộc Ninh, một quận cực bắc Bình Long, giáp với biên giới Campụhia, đã bị thất thủ và con đường quốc lộ 13 đã bị cắt, không còn những chuyến xe xuôi bắc dọc nam. Nhớ trường nhớ lớp, nhớ cô bạn học có mái tóc mây mềm với đôi mắt đen buồn diệu vợi. Mà chỉ một ngày không thấy nhau đã thấy dài như vô tận.

 

Những người lính cuối cùng được trực thăng vận đưa vào An Lộc trong cái ngột ngạt khó tả của những ngày  khốn khó của tháng Tư 1972.

Thành phố của tôi như thu hẹp dần, và tê cứng lại.

Cái tình của dân An Lộc đối với những người Lính đến để giải vây thật nồng hậu, đầy chân tình và nước mắt. Chưa bao giờ tôi được sống với cái tình quân dân như lúc này. Chiến tranh đã kéo dài quá lâu đã làm chai cứng đi cái cảm nhận và hiện hữu của nó.

Từng đoàn trực thăng bay kín bầu trời tiếp nối nhau vào Phi trường L19 để thả quân trong tiếng đạn pháo long trời của giặc. Có chiếc Chinook đang cố lết dần về hướng phi trường vì bị trúng đạn ở thân tầu, khói lửa bốc cháy. Tội nghiệp những người lính đã không được đặt chân vào An Lộc nơi đồng đội và đồng bào đang chờ đón các anh. Theo quốc lộ 13 các anh đi thành từng đoàn vào thành phố. Hai bên đường dân chúng hoan hô reo hò, mang nước và thức ăn để tặng các anh. Ai cũng không dấu được nỗi vui mừng trên khóe mắt, và nụ cười trên vành môi khô héo mỏi mòn trong những ngày bị giặc vây hãm, và sống trong lo âu.

Ở hướng Quản Lợi, các phi cơ oanh kích đua nhau lao đầu xuống bắn và dội bom. Từ An Lộc chúng tôi thấy rõ cả lửa đạn bắn trả từ dưới đất lên. Có những chiếc xuống rồi không bay lên được nữa. Tôi biết ở nơi đó có những người phi công hào hùng đã nằm lại với An Lộc.

 

Con phố Hùng Vương nằm dài theo cây xăng Esso của cô Bẩy Hiệp Thành và gia đình chúng tôi cũng được đón nhận những toán chiến binh vừa trở về sau những ngày dài bị vây hãm ở Lộc Ninh. Nét mệt mỏi và lo âu còn hằn rõ trên từng khuôn mặt của những người lính bại trận. Họ đóng quân trong sân nhà tôi, độ chừng hơn hai chục người. Với nhiệm vụ bảo vệ an ninh thành phố và làm nhũng nút chận Đặc Công Cộng Sản như lời anh lính chỉ huy tâm sự. Đây là vòng đai an toàn thứ năm tính từ ngoài, từ những tiền đồn chung quanh An Lộc. Nơi đó đang được bảo vệ bởi những đoàn quân tinh nhuệ như Biệt Động Quân, Sư Đoàn 5,.. mới vừa được đưa vào An Lộc. Những người lính này cho chúng tôi được cái cảm giác yên lành. Bố Mẹ tôi cũng đãi họ được những bữa cơm ngon bù vào những ngày đói khát. Những ngày này tất cả quân cán chính tỉnh Bình Long đều bị cấm trại 100%. Bố tôi chỉ được phép về thăm nhà vào mỗi buổi sáng với chiếc xe Jeep Hồng Thập Tự của ban Quân Y, thuộc Trung tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu Bình Long, trong bộ quân phục với áo giáp và nón sắt. Bố tôi an ủi mẹ và nói, có ông Tướng Hưng mới được đưa vào An Lộc, và đoàn quân tiếp viện của các Sư Đoàn 18, 21 tăng phái đang trên đường từ Chơn Thành đến để giải vây cho An Lộc. Nên quyết định đưa gia đình rời An Lộc bằng trực thăng đã bị hủy bỏ.

Ngày đêm những máy bay vận tải cơ, C130 hay C 114 thì phải? cứ bay đều chung quanh An Lộc,và phát ra đều những tiếng bùm bùm. Lính đổ vào An lộc ngày một đông. Tối đến lại có lệnh giới nghiêm, chẳng ai được phép ra đường nữa.

Dân tỵ nạn từ các buôn làng, thôn ấp chung quanh An Lộc đã tràn về đầy thị trấn nhỏ bé. Trên các ngã đường vừa lính vừa dân, tay bồng tay gánh. Nước mắt tủi tràn trên thân phận những người dân khốn khó trong cơn ly loạn.

 

Đêm 12 tháng 4  1972 thật yên lặng đến khác thường. Độ 1 giờ sáng ngày 13 tháng 4 giặc bắt đầu nã đạn vào thành phố với những tiếng nổ gào xé kinh hồn, những lóe chớp sáng làm tan đi bóng đêm dài, đạn nổ hầu như không dứt. Nằm trong hầm nghe Radio, được biết Việt Cộng đã bắn hơn 8000 quả đạn pháo vào thành phố nhỏ bé chỉ độ mười mấy cây số vuông này. Đến hơn 7 giờ sáng ngày 13 tháng 4 thì tiếng đạn pháo của giặc thưa hẳn. Chỉ còn nghe những tràng đạn tiểu liên bắn liên hồi, chát chúa. Có một linh tính gì đó, từ trong hầm tôi chui ra và đi lên nhà trên, nghe thấy những tiếng gào khóc và la hét trong sân. Nhìn qua khe lỗ khóa, thấy một tên Việt Cộng đang chỉa súng B40 về phía tôi và la hét bằng những giọng nói thật khó hiểu. Tay chân run rẩy tôi cố gắng lắm mới mở nổi đến 4 lớp khóa cửa. Cửa vừa mở ra thì một tên Việt cộng khác tóm lấy cổ áo tôi và chỉa khẩu súng ngắn vào đầu tôi rồi nói:

-“ Trong nhà chúng mày có ngụy trốn phải không? Tại sao không mở tất cả các cửa ra để chào đón Quân Giải Phóng”.

Tôi run quá chỉ biết trả lời :

-“ Thưa ông không có, nhà chỉ có mẹ cháu và các em nhỏ ngủ trong hầm thôi. Vì hầm nằm xa cửa quá nên không nghe thấy”.

Hắn hét to;

-“Mày dẫn tao đi xem!”, rồi hắn nắm lấy cổ tôi và tay chỉa khẩu súng rồi lôi đi.

 

Đến cửa hầm tôi khóc gọi mẹ. Mẹ tôi bồng đứa em trai mới sinh, và các em nhỏ chui ra.

Hắn lôi tôi đi kiểm soát tất cả các nơi trong nhà. Sau khi không thấy gì hết, nạt to:

-“Mở tất cả các cửa ra để chào mừng giải phóng. Không được trốn trong hầm”.

Đứng trước nhà những tên Việt Cộng đua nhau chỉa súng lên trời bắn những chiếc trực thăng đang vần vũ trên không. Đạn từ trên lại thi nhau tuôn xuống. Trong sân nhà tôi bây giờ không còn thấy những người lính VNCH đêm qua đâu nữa. Toàn là dân tỵ nạn ở đâu đến, chắc có  đến hơn 50 người.

Một người đàn bà lớn tuổi khẽ bảo tôi:

-“Họ đòi bắn súng để phá cửa vào, số gia đình cậu may mắn lắm đó. Chúng tôi phải quỳ lạy van xin họ, nên họ còn chần chừ chưa bắn. Nếu họ bắn chắc nhiều người chết lắm”.

Hàng xóm chúng tôi cũng chỉ biết nghẹn ngào nhìn nhau bằng những cặp mắt thất thần.

 

Đây là lần đầu trong đời tôi thấy những người lính Cộng Sản Bắc Việt bằng xương thịt. Họ gầy ốm xanh sao và đầy vẻ hận thù. Những khuôn mặt xương xẩu, thiếu ngủ lẫn với bụi đất đỏ càng làm tăng thêm cái vẻ bạo tàn của họ.

Đạn nổ khắp nơi, Chợt chúng tôi nhìn thấy một toán lính VNCH độ hơn 10 người thất thểu, không vũ khí, đi xuống con dốc. Sau lưng họ, những người lính Cộng Sản Bắc Việt đã bắn những loạt đạn tử hình. Xác người gục xuống thật kinh hoàng. Vẫn biết chiến tranh là ác độc, nhưng quá tàn nhẫn ở nơi này. Không biết trong số họ, có người lính nào đêm qua còn ngồi tâm sự với tôi không!

Biết không thể ở lại nhà, gia đình chúng tôi bỏ chạy với một sồ giấy tờ quan trọng trong tay. Chỉ còn con đường độc đạo đi về cuối dốc, hướng ngã tư chợ chiều đi Quản Lợi. Trên đường chạy, một đứa em gái nhỏ nghe đạn bắn sợ quá, chạy lạc vào nhà dân. Không thấy em đâu, tôi vùng chạy thật nhanh về hướng có nhiều người chạy vào, may quá thấy em mình đang mếu máo khóc trong đoàn người chạy loạn.

Trời đã ngã trưa, khói súng đan dầy che khuất cả những tia nắng mặt trời gay gắt, không khí như đặc nghẽn lại với toàn mùi thuốc súng. Từng nhóm người xuôi ngược, cứ hễ bị bắn chỗ này thì lại trôi dạt qua nơi khác, trên những con đường bất định. Nơi nào còn được quân đội VNCH kiểm soát thì họ lại không cho đi qua, vì sợ Việt Cộng trà trộn vào phòng tuyến.

Đến xế chiều thì gia đình chúng tôi trôi giạt vào nhà một người bạn học tên Thu ở xóm ga. Ở đó họ nấu cho ăn một bữa cơm. Rồi cùng nhập bọn, chúng tôi bàn với nhau đi về phiá Chùa hoặc nhà Thờ với hy vọng sẽ được bình an. Cả hai dãy phố chợ Cũ giờ đã là những đống tro tàn. Đầu đường Đại Lộ Hoàng Hôn, lối xuống công viên Tao Phùng có những chiếc chiến xa T54 của Việt Cộng còn đang bốc khói cháy,nằm ngổn ngang, những thi thể cháy nám đen của người lính Bắc Việt chân còn bị còng dính vào thành xe. Từng góc phố có những người lính Quốc Gia, vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi chạy thật nhanh, vòng vèo qua những vòng kẽm gai và nút chận của họ.

Ở Công Viên Tao Phùng có những khẩu đại bác của pháo binh VNCH, đặt ở đây tự bao giờ, đang nả đạn liên hồi.

Chúng tôi vào đến trong Thánh đường Nhà thờ Vinh Sơn thì trời đã tối. Chỉ thấy người là người. Đêm về chỉ có chỗ dựa lưng vào nhau để ngủ qua đêm, kinh hoàng trong tiếng lửa đạn.

Khoảng gần sáng thì Cha Xứ đánh thức dạy cùng đọc kinh và làm thánh lễ. Sau đó Cha nói sẽ cầm cờ Trắng để đi về Sài Gòn lánh nạn. Đến hơn 10 giờ, sau nhiều lần tìm cách ra khỏi nhà thờ, đoàn người tỵ nạn dưới sự dẫn đầu của Linh Mục và nhiều quý Thầy Tu Sĩ Phật Giáo mặc áo Cà Sa vàng, cầm trên tay những mảnh vải mầu trắng làm cờ hiệu rời được nhà thờ. Đoàn người chúng tôi cứ bị xua đuổi từ con phố nầy qua góc đường nọ, đâu đâu cũng thấy những chướng ngại vật và xe cộ bị bắn cháy nằm chắn lối ngỗn ngang. Dây kẽm gai chăng đầy khắp mọi ngã đường. Đạn pháo và tiếng đạn đủ loại nổ long trời, đạn đến từ tứ phía, từ trên trời, dưới lòng đất. Có người gục gã, lớp đi sau chạy tràn tới đè lên. Tang thương ngút trời.

Đi loanh quanh, bị xô dạt từ khu phố nầy đến góc đường nọ, cuối cùng chúng tôi cũng đến được khu vực Cư Xá Công Chức nằm cạnh Tiểu Khu khu Bình Long, lúc này trời đã ngã về chiều.

Nơi đây chúng tôi không được phép đi tiếp. Phải tìm chỗ trú ngụ và tránh đạn qua đêm. Gia đình chúng tôi vào được một ngôi nhà mà chủ đã bỏ đi. Nhà đầy kín người. Gia đình tôi được phân chia sẽ ngủ trên tấm Divan bằng gỗ dầy qua đêm. Những người đến trước đã dành chiếm ngủ trong hầm, và những chỗ núp khả dĩ gọi là yên tâm có thể tránh đạn.

Quá  mệt mỏi sau những ngày dài căng thẳng. Chúng tôi chấp nhận chỗ này để có chỗ ngã lưng. Trước cửa nhà lính đủ mọi sắc phục. Tôi đi tìm mua một chút đồ ăn vì cả ngày rồi cả nhà chẳng ai có gì vào bụng cả, bấy giờ mới thấy cái cồn cào của cơn đói hành hạ. Ở một góc đầu ngõ có một người thanh niên còn trẻ cứ lui cui đốt rác, khi lửa cháy anh ta lại cứ cố tình dập tắt, khói đen bay lên cao. Vài phút sau tiếng đạn pháo lại vang trời bụi tung mù mịt. Sau này khi nghĩ lại, tôi mới hiểu ra đó là Đặc Công Việt Cộng đã làm ám hiệu chỉ điểm cho pháo binh của họ bắn chính xác vào những khu vực họ muốn.

Trời nhá nhem tối, bất chợt Vũ Tuyết Minh, cô bạn học cùng tuổi khác lớp chạy qua và nói gia đình tôi qua nhà cô. Ở đấy có đủ hầm ở cho cả gia đình. Trước đây gia đình cô cứ mỗi tối là xuống khu vực phố để ngủ đêm ở nhà ông bà Thầu Khoán xây cất tên Hiển, cách nhà tôi một căn. Vì ở đây không phải là khu vực quân sự nên ít bị pháo kích về đêm hơn.

Đêm đó anh em trai tôi và hai chị em gái con ông Đốc, tên gọi của cha cô, vì ông là Đốc Sự Hành Chánh và làm ở sở Công Chánh, cùng anh em chúng tôi ngủ chung một hầm.

Ngủ thiếp đi vì quá căng thẳng trong tiếng đạn vang đều trong đêm. Quá nửa đêm chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng nổ long trời, tiếng xè xè và tiếng hú của những trái đạn pháo bay ngang đầu. Đạn bay thật thấp, thật gần. Bụi cát, ánh chớp lóe sáng liên hồi, miểng đạn rơi không dứt trên mái nhà. Sợ quá chúng tôi cứ ngồi sát và ôm chặt lấy nhau suốt đêm. Chúng tôi vừa cầu kinh, vừa nhắm mắt trong nỗi sợ hãi vô cùng tận. Không có một tý hy vọng gì sống sót đêm nay.

Trời sáng dần, tiếng đạn pháo cũng giảm đi. Hai mợ của Tuyết Minh mới bàn nhau, cho tôi bắt ghế leo tường qua nhà hàng xóm kế bên, họ đã bỏ đi, bắt mấy con gà của họ để nấu cháo cho cả nhà cùng ăn. Đạn vẫn nổ đều, lúc xa lúc gần, lúc chát chúa, kèm theo những tiếng la hét, chạy săn đuổi nhau.

Xế trưa, chúng tôi lại tìm cách rời bỏ nơi đây. Lúc nầy nhóm chúng tôi đông hơn, toàn những người quen thân; có gia đình Tuyết Mai, gia đình bà Thầu Khóan Hiển, ông bà cụ bán thuốc lào và cô bé con nuôi tên Nhung, mà tôi đặt tên là “ Cà Cuống “, vì cô bé chậm lớn. Khi đi qua ngôi nhà mà đêm trước chúng tôi định dừng chân trú qua đêm, thì nhà bị pháo sập chỉ còn trơ vài góc tường cháy xám, xác người chết ngổn ngang. Những người nhập bọn đến sau đã kể lại, cũng đêm qua ngôi giáo đường đã không còn nguyên vẹn, xác người chết không biết đâu mà kể.

 

Ở đây là khu vực quân sự, nên lính có ở mọi nơi mọi ngã. Đi len lõi từng đoàn qua những ngõ đường, bị xô đuổi từ nơi này đến góc khác. Đoàn chúng tôi khi đi qua Tiểu Khu, và ngang qua Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận thì thấy Bố tôi đứng ở cổng, thấy vợ con mừng quá, ôm chầm lấy chúng tôi. Bố cởi bộ quân phục và nón sắt, áo giáp, tay xách hai túi đồ hộp rồi nói với đồng đội đưa chúng tôi ra khỏi An Lộc rồi sẽ quay lại. Bố kể hôm 13. tháng 4 có đi xe Jeep Hồng thập Tự từ trại trở về nhà thì ông hàng xóm ra đứng nói chuyện và nói cả gia đình tôi và hàng xóm kế bên đã bỏ chạy. Không biết đi đâu. Bốn người đang đứng nói chuyện thì một loạt AK nổ, nhìn lại ông hàng xóm và một người lính đi cùng bị trúng đạn gục chết, một bạn đồng ngũ cùng xóm bị trúng đạn máu tuôn lênh láng. Bố tôi phóng vội vào nhà, mở tủ tìm lấy một bộ đồ dân sự. Lúc nầy trong nhà tôi dân tản cư đầy kín. Một vài người phản đối nói tại sao bố tôi lại đi lấy đồ của người khác trong lúc đang chết chóc như thế này. Bố tôi mới giải thích cho họ biết mình là chủ nhà.

Theo xe Quân Y cùng với người lính bị thương bố tôi trở về đơn vị. Cứ hằng ngày ra trước cổng đứng đón với niềm hy vọng sẽ thấy vợ con chạy ngang qua. Bố đã cho những đoàn người đi qua không biết bao nhiêu những bao cát chứa đầy đồ hộp.

Trời nắng gay gắt, trong lúc chạy, tôi đã bị mất đôi dép. Đôi chân sưng phồng lên.

Khi loạt đạn pháo vừa ngưng, thì chúng tôi được cho chạy qua Chi Khu An Lộc để theo Quốc Lộ 13 hướng về Sài Gòn. Những chiếc xe be, xe vận tải đủ cỡ bị bắn thủng bánh xe, nằm ngang dọc để chận lối vào của xe Tăng giặc. Ở cổng vào Tòa Hành Chánh Tỉnh một chiếc tăng T54 bị cháy nằm đấy. Đang đi thì hàng loạt đạn pháo lại nã vào đoàn người tỵ nạn. Người chết la liệt, khắp nơi, chúng tôi phải đạp lên xác chết và cả những người đang bị thương nằm rên xiết mà chạy. Máu lênh láng nhuộm thẫm mặt đường.

Nhìn lên, trời thật cao chói sáng, tôi khấn nguyện Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn Đại Bồ Tát: Do niềm tin và linh cảm tôi thấy như có phép mầu dẫn dắt chúng tôi.

Ra khỏi trạm kiểm soát, ranh giới tỉnh, gặp gia đình chú Viên, một đồng ngũ của Bố. Lúc còn ở Quân Ngũ chú là người chịu ơn của Bố tôi nhiều lắm, như mỗi lần gặp anh em chúng tôi Chú đều nói thế. Chú đã rời quân ngũ và đắc cử vào Hội Đồng Nhân Dân Xã. Chú chạy cùng gia đình, có một chiếc xe Daihatsu nhỏ 4 bánh chở họ hàng và vợ con chú. Chú đề nghị mẹ tôi có con nhỏ lên xe Daihatsu đi cho khỏe. Nhưng không biêt nghĩ sao, lại đổi ý và nói để em chở chị bằng xe Honda.

Nơi đây đã hết là vùng kiểm soát của quân đội Quốc Gia.

Xe chạy độ vài trăm mét, thì những tiếng nổ kinh hồn bắn vào đoàn xe và nhóm người đi đầu. Chiếc xe chở gia đình vợ con Chú bị bắn và cháy đỏ. Tiếng người la khóc vang vọng bi thương khắp một góc trời. Đoàn người Tỵ Nạn chúng tôi lại dạt ra, chạy trốn nhanh vào những đám rừng cao su hai bên đường quốc lộ 13, qua một hố trũng ven đường.

Nơi đây tôi mới nhìn thấy những người cán binh Cộng Sản đông đến mực nào. Cứ mỗi gốc cao su có đến 4 -5 người. Trong rừng cao su họ đông vô kể. Họ la hét và bắn xả lên trời khi thấy bất kỳ một chiếc máy bay nào bay ngang qua. Họ chỉ cách với vùng của Quân Đội Quốc Gia nằm bên kia chỉ vài trăm mét. Những cây cao su bị đốn ngã vì bom đạn, những vỏ bom đạn to lớn nằm rải rác khắp trong rừng. Trong cơn đói khát, tôi và Tuyết Minh, hỏi xin họ nước uống, và cũng để làm bộ cho họ thương cảm mà không bắt và bắn mình. Họ chỉ vào những chén mủ đựng cao su treo trên cây cao su, có một lớp nước mưa đọng trên đó và nói, lấy ở đó mà uống. Cầm lên, do bị lay động những con lăng quăng sống trong đó vẫy bơi, làm đục đỏ ngầu chén nước, bên dưới là lớp mủ cao su đã đông cứng tự bao giờ. Chén cao su nào cũng vậy cả. Cơn khát làm cho người ta quên cả nỗi sợ hãi và quên sợ cả cái dơ khi phải uống nước bẩn.

 

Đi luồn lách trong rừng sâu độ hơn 1 giờ chúng tôi lại bị lùa ra đường Quốc Lộ 13.

Xa xa có những đoàn trực thăng lao nhanh xuống xả đạn bắn vào những đám rừng, lửa khói ngút trời.

Trời về chiều chúng tôi đã đi qua Ấp Chà Là.

Hai bên đường từng toán du kích Việt Cộng đứng chận bắt tất cả đàn ông và trai trẻ. Vì nhỏ con, lại khi chạy khỏi nhà tôi chỉ mặc được duy nhất một cái quần đùi, nên không bị họ bắt. Bố tôi bị họ lôi ra khỏi đoàn người và chỉ ra một mô đất cao bắt ra đứng riêng ở đó. Nơi đó đã có rất đông người bị bắt giữ. Bố rơm rớm nước mắt chân tay run và trao đưa em còn nhỏ đang ẫm trên tay và nói: Mẹ ráng đưa các con về Sài Gòn rồi nói lời vĩnh biệt!

Các người hàng xóm tốt bụng chia nhau đứng chung quanh che tầm mắt của những người du kích Việt Cộng đang tiếp tục đứng bắt người trong đòan người di tản. Mẹ tôi nói nhanh, hãy len vào đi ở giữa nhóm, thế là Bố thoát nạn, không bị bắt.

Gần đến làng Tân Khai nơi đây yên tĩnh hơn không còn bom nổ đạn rơi. Chúng tôi bị họ bắt ở lại nơi nầy sinh sống và nói đây là Vùng Giải Phóng. Nơi đây từ trường học cho đến các nơi công cộng như trụ sở Ấp, trạm Y Tế,….dân tản cư đã đến từ bao giờ, đông vô số kể và chiếm ngụ khắp nơi.

Nhóm chúng tôi đi tìm nơi trú ngụ, đi khắp nơi chẳng còn nhà dân nào có thể chứa được.

Cuối cùng rồi cũng tìm được một ngôi nhà và họ đồng ý cho tá túc.

Tân Khai là một ấp nằm ven Quốc Lộ13 cách An Lộc độ 13 cây số đi về hướng Sài Gòn. Đây là một ấp tân lập, được hình thành nhằm giúp đưa các gia đình sống trong các vùng thường bị Việt Cộng quấy nhiễu tập trung về đây. Đa số dân được chính phủ cấp nhà và cấp đất nằm sâu trong rừng để canh tác và trồng trọt.

Vì đây là vùng đất tương đối cao, do sự phá hủy rừng bừa bãi để làm than đốt, nên đất đai bị mất dần mầu mỡ. Khi chúng tôi đến nơi đây, chỉ thấy độc nhất một loại khoai mì do dân địa phương trồng vào mùa này. Tất cả các giếng nước đều sâu đến hơn15 m, phải đào qua lớp đá  ong cứng chắc. Vì dân tỵ nạn đến đông quá, nên các giếng này đều cạn nước. Chúng tôi phải canh vào lúc 2- 3 giờ sáng sớm, lúc này mạch nước mới rò rỉ ra, để lấy được vài chậu nước nấu ăn.

Cái gì ở đây cũng khan hiếm, gạo thì không có bán. Chợ thì không họp.

Đa số dân địa phương ở đây đều theo Việt Cộng. Họ không thích xử dụng tiền Quốc Gia VNCH. Chúng tôi phải dùng vàng y để đổi lấy lúa, thịt heo và khoai mì, hay những trái dưa leo chỉ lớn hơn ngón chân cái và thật đắng…. Một chỉ vàng 24 Karat đổi được 1 muỗng muối hột! Thỉnh thoảng dân địa phương cũng làm thịt heo để bán cho người tỵ nạn.

Tôi cùng Tuyết Minh cầm chày thay nhau giã lúa thành gạo để nấu cơm. Hôm cơm, hôm khoai mì để sống qua ngày. Có khi chúng tôi phải đi xa hơn vài cây số trong ánh náng gay gắt, mới lấy về được một thùng nước từ con suối gần đó. Về đến nơi còn bị vơi đi đến hơn nửa, dù đã bắt chước họ để những chùm lá rừng vào trong thùng cho nước đỡ sóng sánh. Buồn quá tôi nghĩ, nếu không thoát được nơi này chắc suốt đời tôi sẽ không còn được cầm chai Cola ướp đá lạnh tu thật nhanh để cho hơi ga xì qua lỗ mũi mới thấy đã, như tôi vẫn thường có thói quen uống kiểu này. Biết bao giờ mới được ăn lại những trái nho chín mọng, hay những trái cam Sun Kit vàng rực ngọt lịm được đưa từ Mỹ qua.

Bà chủ nhà nơi chúng tôi được phép tá túc, có 2 người con đều là du kích cao cấp. Cứ độ 1 đến 2 ngày họ lại về nhà. Đồng phục của họ chỉ là bộ đồ nông dân, được chùm kín bằng mảnh vải dù Mỹ, cũng dùng làm chăn đắp. Đôi dép râu làm từ vỏ cao su của bánh xe hơi phế thải.Vai họ quàng một chiếc Radio. Hai người này hiền lành, chứ không như những người mà chúng tôi gặp sáng ngày 13.04.1972 ở Bình long, lúc vào nhà chúng tôi. Họ ăn uống xong còn dư chén canh hay trái bắp đều chia cho các em nhỏ của tôi.

Ông chủ nhà đã luống tuổi và là một người đức độ. Cứ sáng sớm ra ngồi trước sân, thấy dân chạy loạn cứ ùn ùn từng đàn kéo đến, lại lắc đầu thở dài. Có lần ông hỏi gia đình tôi tính đi đâu vậy. Tôi trả lời là đi tản cư về Sài Gòn. Ông nói: đi đâu chi cho cực, sao không trở về nhà đi. Trước sau rồi, họ cũng về đến Sài Gòn thôi.

Tôi chỉ gật đầu dạ lấy lệ. Bây giờ ngẫm lại thấy ông ta tiên đoán thật hay.

Thỉnh thoảng chúng tôi thấy từng đoàn trực thăng bay về hướng An Lộc xà thấp xuống bắn những loạt đạn long trời rồi cất cánh bay vút đi xa.

Gặp lại những thằng bạn cùng lớp, áo trắng quần dài xanh đi thong dong trên đường. Chúng nó đều bị bắt ở Tân Khai đưa về vùng Giải Phóng, có đứa sau 1975 làm đến chức Đại úy Công An.

Ngày ngày có những toán du kích đưa những người sĩ quan ,công chức đã bị bắt trước đi lùng sục,nhìn mặt bắt tiếp những người sau. Như ông Đại Úy Hiệp, nghị viên hội đồng tỉnh Bình Long. Ông Đại Úy nầy đã đi từng ngày để lùng bắt các đồng ngũ của ông. Thật là kinh hoàng.

Cái may của gia đình tôi, là bố tôi cứ núp và ẩn mình trong nhà của bà mẹ du kích. Có lần bà hỏi bà cụ bán thuốc lào: Bố mẹ tôi làm gì mà tướng tá bảnh bao vậy? Bà cụ thuốc Lào thương tình bịa ra chuyện: Bố mẹ tôi nghèo lắm, chỉ có mua mấy trái mít bầy ra chợ bán để kiếm tiền nuôi con và sinh sống.

Ở đây chỉ nghe tiếng bom đạn vang vọng từ nơi thật xa. Ngày qua ngày, các du kích Việt Cộng cùng với những người làm nội tuyến cho họ đi săn lùng. Họ trói tay từng nhóm thanh niên đàn ông, chỉa súng dẫn đi mất dạng về hướng rừng sâu.

Ngày qua ngày các Cha và các Sư dẫn từng đoàn người cầm cờ trắng đi ra Quốc lộ 13 đi về hướng Saigon. Đi độ vài trăm thước thì lại bị Việt Cộng bắn và đuổi quay trở lại làng Tân Khai. Hơn một tuần, ngày ngày cứ đi đi về về như thế, không biết bao lần. Chẳng ai còn hy vọng thoát khỏi nơi này nữa.

Ngày lẫn đêm họ họ đi từng nhà lùng bắt các quân cán chính VNCH, tuyên truyền để giữ dân ở lại với họ.

Đêm cuối cùng ở Tân Khai mẹ tôi đã nín lặng, run sợ như lên cơn sốt, cố bậm môi nhưng không ngăn được những dòng nước mắt lăn dài trên má, khi 3 người du kích cầm đèn Pile đứng rọi thật lâu vào mặt Bố tôi lúc ông đang ngủ. Những ngày ở đây không khi nào ông dám bước ra khỏi nhà. Chỉ quanh quẩn bên chiếc cói đựng thóc to lớn nằm ở góc nhà. Do quá căng thẳng đêm ấy ông nằm dưới đất ngủ thật say, bên cói thóc, nên không bị phản ứng run sợ, khi bị chiếu đèn vào mặt. Ngẫm nghĩ một lúc, bàn với nhau. Họ không lôi ông dậy, rồi bỏ đi.

Đến nửa đêm, chúng tôi thông tin cho nhau, lại tìm cách ra đi. Trời tối đen như mực, thỉnh thoảng ở tận xa xôi lấp lánh một vài vì sao lẻ loi. Đoàn người âm thầm nối gót nhau trên Quốc Lộ 13 đầy ai oán bi thương. Hai bên rừng sâu, ánh đom đóm lập lòe, thỉnh thoảng có những vệt đèn pile lóe sáng chiếu dài trong rừng rậm.

Đi độ đến 4 giờ sáng, đạn lại nổ long trời ở phía trước, tiếng khóc gào vang vọng giữa đêm khuya. Lúc nầy chúng tôi mới biết mình là những người ở cuối đoàn người di tản. Ai nấy đều nằm xấp xuống sát mặt đường để tránh đạn. Khoảng chừng hơn 10 phút, một đoàn trực thăng từ xa bay đến, dùng đèn pha chiếu sáng dài theo Quốc Lộ, dẫn đường cho chúng tôi đi về hướng Chơn Thành.

Lính Thám Báo VNCH ở tiền đồn thấy có những bóng đen di chuyển trong đêm, tưởng lầm là Việt Cộng, nên những người Đề Lô gọi truyền tin về Chơn Thành dùng đại bác bắn chận đường. Ôi oan khiên cho những nhóm người đi đầu, họ đã đi mà không về được đến chốn bình yên!

 

Trời sáng dần, chúng tôi vẫn đi đều bước. Trên đoạn đường nầy, đủ loại xe nhà binh của VNCH, chở súng ống đạn dược, bị cháy ngổn ngang ở đây. Có đến hằng trăm chiếc, đạn đại bác, quân dụng còn nằm đầy trên xe. Đoàn xe bị phục kích và bị tiêu diệt hoàn toàn. Hai bên đường là những hầm hố cá nhân, chắc có lẽ là những chốt chặn của Viêt Cộng.

Những thây người trong quân phục nằm thối rữa ở mọi nơi, dưới gầm xe, bên lòng đường, trên đường. Chúng tôi phải đạp lên trên những con ròi, kêu tanh tách, mà tiếp tục đi.

Đến cổng Chơn Thành, đã có xe GMX của Quân Đội chờ đón đưa chúng tôi tôi vào. Liên lạc được với các đồng đội, gia đình chúng tôi được đưa về ngủ đêm ở nhà một người chiến hữu của Bố tôi. Chiều hôm đó chúng tôi được ăn một bữa cơm thật ngon, có lẽ ngon nhất trong đời tôi. Sau những ngày dài đói khát “ trong Vùng Giải Phóng”.

Đêm đến đạn pháo của địch lại vang vọng từ bốn phía, người lại chết không toàn thây.

Trưa hôm sau, chúng tôi được những đoàn xe đò đưa về Bình Dương lánh nạn. Gần tới Lai Khê đoàn xe lại bị chận lại. Những toán phóng viên của những đài truyền hình quốc tế, thay nhau quay phim và phỏng vấn chúng tôi. Những người vừa trở về từ cõi chết.

Xe đến trại Tạm Cư Phú văn-Gò Đậu -Bình Dương  thì rẽ vào. Chúng tôi được làm hồ sơ để ghi danh. Mừng quá gia đình chúng tôi bỏ cả trại, thuê xe về Sài Gòn sống nhờ ở nhà thân nhân. Bắt đầu cuộc đời lưu lạc trên đất tự do. Mơ một ngày về An Lộc khi ngưng tiếng súng. Một giấc mơ một đời không trọn.

Cho đến tháng tư 1975 Bình Long cũng chưa hề rơi hoàn toàn vào tay giặc. Dù vẫn bị vây hãm tứ bề, mọi tiếp tế và đi lại chỉ bằng phương tiện không vận.

 

Ở bến xe chợ Mới , trong hoang tàn, cạnh nhà lồng chợ, có một nghĩa trang lấp vội trong những ngày lửa đạn dành cho các anh hùng Biệt Cách Dù đã ở lại vĩnh viễn với miền đất đỏ sầu bi. Cảm đề một cô gái An lộc đã thương tặng các anh 2 câu thơ thật nghĩa tình:

“ An Lộc Địa sử nêu chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”

Với vốn liếng Hán Văn học được với thầy Nguyễn quang Lưu, một học sinh Trung học bình Long cũng viết 2 câu thơ:

“ Thập tam nguyệt tứ phỉ nô nhập

Bình Long huyết thổ môn khởi địa”

“13 tháng 4 cộng nô vào

Bình Long đất máu chốn địa đầu”

 

Trong tháng ngày lưu vong, nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy khi, đã viết về thân phận gia đình ông trong ca khúc bất tử: ” 1954 cha bỏ quê, 1975 con bỏ nước”. Qua sự diễn tả tuyệt vời của Elvis Phương đã làm hàng triệu con tim người Việt ly hương thổn thức trong nỗi đau mất nước. Tôi cũng tìm thấy mình ở đâu đó, trong khúc Tủi Nhục Ca này.

 

30.04.1975. Hơn 3 năm sau đó, Sài Gòn thất thủ. Không kịp di tản, chúng tôi phải ở lại tiếp nối những ngày dài khốn khó của một kiếp người bại trận….

 

Tháng Tư lại về. Người An Lộc ai còn ai mất, hay những ai đã vĩnh viễn ra đi, hoặc trôi dạt đến tận nơi nao. Xin cùng nhau thắp một nén hương lòng để tưởng nhớ đến những người lính VNCH của Bình Long Anh Dũng năm xưa và vị Tướng tài Lê Văn Hưng, với đầy nghĩa khí của người chiến binh cầm súng bảo vệ quê hương. Nắng chiều tháng Tư đến nhẹ, nỗi đau tháng Tư vẫn còn đó, có lẽ muôn đời!

 

(Viết xong tháng 3.2016 tại Bình Long, để nhớ về những người dân An Lộc)

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

XÉT LÝ LỊCH

Tôi thấy hoang tàn trên tuổi xanh

Tác giả :Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Nguồn:
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/10/06/toi-thay-hoang-tan-tren-tuoi-xanh/

0e471523_people-shadow-banner

Đó là một buổi chiểu của năm 1987. Một buổi chiều mà tôi cứ hay bị ký ức lôi về căn phòng tối thăm thẳm không lời đáp.

Đó là năm thứ 2 trung cấp, tôi đang theo học ở Nhạc Viện TP. Buổi chiều với giờ học Trích giảng Âm nhạc của thầy Trương Hữu Lang. Cả lớp bỗng sững lại. Gương mặt ông thấy cũng bối rối khi bà bí thư Đảng Uỷ Nguyệt Anh dẫn theo một công an viên đến lạnh lùng gọi tên một người bạn của tôi bước ra khỏi lớp. Anh Trịnh Bằng Phi, học contrabass, luống cuống nghe thông báo rồi quay lại bàn gom sách vở ra về. Từ đó về sau, tôi không bao giờ gặp lại anh được nữa. Anh Phi bị đuổi học bất ngờ vì người ta tìm thấy ba anh là một sĩ quan của chế độ VNCH. Khi ấy anh chưa được 25 tuổi, nhưng đã là một trong những tay chơi contrabass hiếm hoi đủ thể chất và trình độ của miền Nam, thế nhưng anh bị xô ngã một tương lai, vì lý lịch.

Trong suốt những năm theo học ở các trường đại học, tôi học khôn được một chuyện là ở quê hương mình, lý lịch có thể giúp một người đi xa đến bao nhiêu, và ngược lại, có thể tàn phá hành trình đến tương lai nhanh đến nhường nào.

Cho đến hôm nay, khi câu chuyện về anh thanh niên 30 tuổi nhận chức giám đốc Sở ở tỉnh Quảng Nam bị đưa vào các cuộc tranh cãi, tôi lại đọc thấy các phát ngôn trên các trang báo của Nhà nước bảo vệ cho vị giám đốc Sở trẻ trung ấy bằng những lời lẽ nhân ái mà tôi và thế hệ tôi chỉ có mơ mới thấy.

Trả lời phỏng vấn của báo Người Đưa Tin, ông Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long, nói rằng người tài không cần xét là con ai. Còn độc giả Vu Gia thì viết trên VietnamNet rằng “nhắc đến lý lịch làm gì?”.

Tôi chúc phúc cho anh giám đốc Sở 30 tuổi ấy. Và hy vọng rằng nếu anh may mắn được bảo vệ ở đủ chiều cho chức vị ấy, hãy cố gắng chứng minh khả năng của mình với đất quê Quảng Nam nghèo khó. Anh hãy chứng minh là một người lãnh đạo minh bạch và tử tế để vượt qua mọi cái nhìn ghẻ lạnh của dân chúng lúc này.

Anh ta may mắn hơn những người bạn của tôi, của thế hệ tôi.

Những ai từng học qua ở Nhạc Viện vào cuối thập niên 90 chắc đều còn nhớ tay chơi viola tài hoa Phúc Hải. Anh được nhận học ở Nhạc Viện bởi ngay từ lúc thi tuyển, các thầy cô chuyên môn đã nhận ra đó là một tài năng hiếm có. Những năm cuối của bậc đại học, Phúc Hải được các chuyên gia âm nhạc của Nga đến nghe và lập tức chọn để cho học bổng tu nghiệp ở Moscow. Cũng như mọi câu chuyện lãng mạn về âm nhạc, như Đặng Thái Sơn, sinh viên Phúc Hải có thể thử sức mình ở một môi trường thử thách với tài năng của anh.

Thế nhưng vào buổi chiều hôm đó, Phúc Hải được tin anh không được nhận học bổng đi du học, vì ba của anh là thành phần của chế độ cũ. Thầy tôi, giáo sư Đinh Sơn, một đảng viên có hơn 30 tuổi đảng, là người ra sức bảo vệ sinh viên Phúc Hải nhưng rồi thất bại. Ông buồn bã nói với tôi rằng có lẽ ở đất nước này, chuyện lý lịch là một cái bẫy công khai nhưng ai cũng phải bị vướng một lần.

Tôi chúc cho tất cả những bạn trẻ làm quan ở tuổi thanh xuân phơi phới hôm nay, sẽ không có những ngày tháng hoang tàn như bạn bè tôi. Dù bên tai tôi nghe vẫn vo ve những xảo ngữ về chuyện lý lịch không quan trọng, tôi vẫn mong đất nước này người tài có thể cống hiến, và tham vọng cha truyền con nối chức vụ chỉ hiếm hoi ở bọn đê tiện.

Buồn chán, anh sinh viên Phúc Hải tài năng mà tôi biết đã bỏ trường và bỏ hẳn đàn. Sau đó ít lâu anh đi nước ngoài theo diện H.O. Anh là một trong nhiều trường hợp không may về lý lịch.

Lý lịch không phải là chuyện của hôm qua hay hôm nay mới trở thành chuyện bàn cãi, mà Việt Nam đã từ lâu ghi nhận câu chuyện của nghệ sĩ Đặng Thái Sơn với lý lịch có cha Đặng Đình Hưng, là một nghệ sĩ bị chỉ định cư trú kèm theo dõi của công an vì đã tham gia các phong trào Trăm Hoa Đua Nở, Nhân Văn Giai Phẩm. Nếu không có nghệ sĩ dương cầm người Nga Issac Katz ra sức bảo vệ và tìm đủ mọi cách để mang ra khỏi Việt Nam vào năm 1974, thì chưa chắc thế giới đã có một Khôi nguyên người Châu Á giải Chopin quốc tế tại Warsaw, Ba Lan vào 1980.

Chúng ta không muốn nói về lý lịch. Thật vậy. Nhưng rõ ràng lý lịch đã là một hiện thực bất khả biện trên đất nước này, và đã gieo không ít hoang tàn lên tuổi trẻ của chúng ta và nhiều người khác. Vậy hãy đối diện với nó, trò chuyện với nó, chứ đừng tảng lờ và giả nhân giả nghĩa.

Tháng 9/2015, tôi gặp lại anh Nguyễn Hoàng Phương, từng là một trong những tay chơi Oboe xuất sắc của khoa kèn và dàn nhạc giao hưởng của Sài Gòn. Năm 1993, anh Phương cũng từng được cử dự tuyển đi du học ở Nga, như một trong những hạt nhân xuất sắc của dàn nhạc giao hưởng thành phố. Thế nhưng trước vài giờ vào phòng thi tuyển với chuyên gia người Nga, anh được thông báo của bên giáo vụ cho biết anh không đủ tư cách dự tuyển, cũng do có ba là sĩ quan VNCH – dù ba anh đã rời trại cải tạo và về nhà vài năm trước đó.

Còn rất nhiều người mà tôi chưa thể kể hết ở đây. Còn rất nhiều những câu chuyện mà thỉnh thoảng, khi chúng tôi ngồi lại, buồn ngơ ngác vì chỉ thấy hoang tàn trên tuổi xanh của thế hệ mình. Chẳng bao giờ chúng ta có thể thấu hiểu được mất mát nếu cứ giả vờ như những kẻ bại liệt lương tri và ý thức.

Mất mát sẽ là một bài học gần gũi và nhân ái nhất để nhận ra rằng lý lịch chỉ là chuyện vặt cần phải bước qua, nếu tuổi trẻ sớm được trao cho cơ hội để cống hiến danh dự, trách nhiệm cho tổ quốc. Nhưng tuổi trẻ sẽ mãi mãi hoang tàn, nếu chỉ biết nhìn quê hương như những phần ăn giấm giúi cho nhau dưới gầm bàn quyền lực. Tuổi trẻ đó, thời đại đó, sẽ không khác gì dành cho loài dã thú.

————————————————-
(cho H.)

Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ HỎI THỦY SƯ ĐÔ ĐỐC PHÁP

Giáo sư Trần Văn Khê được mời dự buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản, tổ chức tại Paris (Pháp). Tham dự hầu hết là người Nhật và người Pháp, duy chỉ mình ông là người Việt. Diễn giả hôm đó là một cựu Thủy sư Đề đốc người Pháp đã mở đầu bài thuyết trình bằng câu: “Thưa quý vị, tôi là thủy sư đề đốc đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy một rừng văn học, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm với chỉ 31 âm tiết. Chỉ hai điều này thôi, các nước khác không dễ có được…’”. Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Khi đến phần giao lưu, ông xin phép đuợc bày tỏ:
“Thưa Ông Thủy sư Đề đốc, ông nói rằng ông đã ở Việt Nam cả 20 năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Chẳng biết khi ngài qua Việt Nam, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của nước Việt? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm 1300 sách báo về văn chương Việt Nam mà giáo sư đã in trên Tạp chí Viễn Đông Bác cổ của Pháp. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông ấy đã cất công sưu tập…Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng vạn áng văn kiệt tác…
Ngài nói trong thơ Tanka, chỉ cần một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Tôi chỉ là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng với kiến thức văn chương học thời trung học cũng đủ để trả lời ngài: Việt Nam có câu: “Đêm qua mận mới hỏi đào/Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Trai gái thường mượn hoa lá để bày tỏ tình cảm. Còn về số âm tiết, tôi nhớ sử Việt Nam chép rằng ông Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc) gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:
“Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”
(Nghĩa là:
Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước ao
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!)
– tất cả chỉ 29 âm chứ không cần đến 31 âm”.
Khi giáo sư Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt.
Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam”.
Đăng tải tại Uncategorized | Để lại phản hồi