Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt

Tác giả : Trần Gia Ninh

Nguồn :
http://tiasang.com.vn/-dien-dan/Nhin-lai-lich-su-Bach-Viet-va-qua-trinh-Han-hoa-Bach-Viet-10022#
post ngày 03-9-2016

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.

Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.

Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.

Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.

Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.

Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.

1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1
CHÚ DẪN

1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml

越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.

3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html

The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).

13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

16 叶榆水

17岱依人

18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.

28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.
* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

 

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

Tài liệu tuyệt mật của CIA về vụ thảm sát Thiên An Môn 1989

Đội quân tiên phong bị giải thể trong Chương trình Cải cách Quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là Quân đoàn 27, sự kiện gây chú ý vì đây là đội quân chính gây ra vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989.

Trang tin Next Magazine ở Hồng Kông gần đây đã đăng bài viết tiết lộ thông tin về hồ sơ mật của Nhà Trắng (Mỹ), theo đó tình báo Washington từng thu thập được tài liệu của nội bộ Trung Nam Hải đánh giá về số thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn lên đến 40 nghìn người, trong đó có 10.454 người bị giết.

 thienan-mon-1
Thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4/6/1989

Trong cuộc thảm sát này, Quân đoàn 27 là thủ phạm chính. Sau vụ thảm sát, ông Giang Trạch Dân được ông Đặng Tiểu Bình tín nhiệm và cho thay thế ông Triệu Tử Dương. Ông Giang được chọn là vì đã thẳng tay trừng phạt “Báo Kinh tế Thế giới” và biết nghe lời lãnh đạo ra tay đàn áp phong trào dân chủ tại Thiên An Môn.

Trong “Nhật ký Lý Bằng” cũng khẳng định, ông Giang là “kẻ lãnh đạo và quyết định” đàn áp tại Quảng trường Thiên An Môn.

Khác biệt về số lượng thương vong trong tài liệu mật

Có nhiều số liệu khác nhau liên quan đến số người thương vong trong sự kiện Thiên An Môn. Theo số liệu của Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc, số người chết từ 2.600 ~ 3.000 người.

Vào ngày 16/6 năm đó, Tổng Lãnh sự quán Mỹ trú tại Hồng Kông đã chia sẻ một thông tin có được từ tài liệu nội bộ của chính quyền ĐCSTQ, theo số liệu này thì từ ngày 3 – 4/6, tại Thiên An Môn và phố Trường An có 8.726 người bị giết; từ ngày 3 – 9/6, vùng ngoại vi Thiên An Môn thuộc nội thành Bắc Kinh có 1.728 người bị giết.

 thien-an-mon-2
Vụ thảm sát Thiên An Môn

Như vậy, tổng số người chết là 10.454 người, còn số người bị thương thì lên đến 28.796 người. Người Mỹ khẳng định, thông tin tình báo của họ đáng tin cậy, cho dù hiện không có cách nào kiểm chứng được thông tin trong tài liệu gốc này.

Theo truyền thông Hồng Kông, tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải đánh giá về số thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn và những chi tiết liên quan đến Quân đoàn 27 gây tội ác thảm sát mà người Mỹ thu thập được là chưa từng được biết đến.

Theo Next Magazine, tin tình báo của Mỹ có được qua tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải đánh giá về số người thương vong trong sự kiện thảm sát Thiên An Môn lên đến 40 nghìn người, trong đó 10.454 người bị giết.

Chứng cứ này trái ngược hoàn toàn với công bố công khai của chính quyền ĐCSTQ với cộng đồng quốc tế rằng “không có người chết trong Sự kiện Thiên An Môn 1989.”

Quân đoàn 27 gây ra vụ thảm sát là đội quân mù chữ

Tối ngày 9/2 năm nay, chương trình “Tin tức Quân sự” của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc đưa tin, Quân đoàn 27 đã từ Thạch Gia Trang chuyển tới Sơn Tây.

Vào tháng 12 năm ngoái, tờ Minh Báo của Hồng Kông đưa tin, Quân đoàn 27 thuộc Quân khu Bắc Kinh bị giải thể, vào tối ngày 29/12 đã chuyển một bộ phận quân đến doanh trại xe tăng tại quận Giao, thuộc Thái Nguyên – Sơn Tây, đổi tên Sư Lục Quân đoàn 27, Tổng bộ trú tại Thạch Gia Trang – Hà Bắc được chuyển đến Ban Lục quân Chiến khu Trung bộ.

 thien-an-mon-3
Vụ thảm sát Thiên An Môn

Next Magazine chia sẻ thông tin theo hồ sơ mật của Washington, Quân đoàn 27 là đội quân chính ra tay thảm sát khiến nhiều người thiệt mạng tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6.

Vào sáng sớm ngày 4/6, đội quân này mang theo vũ khí tiến vào Quảng trường Thiên An Môn thực hiện cuộc thảm sát, trong những người bị giết hại có cả lính của những đơn vị khác, vì thế mà tại đây còn xảy ra một cuộc chiến trong nội bộ lực lượng quân đội Trung Quốc.

Theo lời của gián điệp Mỹ, Quân đoàn 27 là đội quân được tín nhiệm và luôn biết phục tùng, tướng chỉ huy là Yang Jianhua, em trai cựu Chủ tịch nước Dương Thượng Côn, còn Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị khi đó là con của tướng Dương Bạch Băng, còn gọi là Dương Thượng Chính.

Nhưng nhân vật bí ẩn này không thấy có bất cứ tài liệu nào nhắc đến, không thể tìm được tên gốc bằng tiếng Trung Quốc.

Theo thông tin, Quân đoàn 27 là đội quân đặc biệt được tuyển từ những nông dân vùng hẻo lánh, có đến 60% là mù chữ.

Doanh trại Quân đoàn 27 ở Thạch Gia Trang, cách Bắc Kinh khoảng 4 tiếng chạy xe, trước ngày vào thành Bắc Kinh họ được thông báo tới Bắc Kinh để huấn luyện. Trên đường đi vào thành Bắc Kinh, lại được thông báo được cho đi tham quan, ai nấy đều thích thú.

thien-an-mon-4
Vụ thảm sát Thiên An Môn

Vào ngày 20/5, sau khi Bắc Kinh thực thi lệnh giới nghiêm, họ mới biết “có lực lượng làm loạn.” Khi đó tiến vào Bắc Kinh còn có đội quân của Thẩm Dương và Thành Đô, nhưng chỉ có Quân đoàn 27 mang theo vũ khí chiến đấu, bao gồm: xe tăng, xe thiết giáp, sung ống đạn dược…

Hồ sơ nhắc đến vụ thảm sát diễn ra vào sáng ngày 4/6, vụ thảm sát xảy ra tại Lục Bộ Khẩu (Liubukou) ở phía tây Trung Nam Hải. Khi người dân cản trở đường đi của quân nhân, đội quân mù chữ Quân đoàn 27 đã chạy xe tăng lao thẳng vào các quân nhân và người đi đường, những họng súng cũng nhắm thẳng vào người dân khai hỏa.

Quân đoàn 27 đã nhận được mệnh lệnh: “Không được cho bất cứ ai chạy thoát, không được cho bất cứ ai sống sót.” Khi xe bọc thép chạy vào Quảng trường Thiên An Môn đã chuyển sang lao vào các học sinh, sinh viên, phụ nữ và trẻ em, giết đến đâu thì dùng máy ủi gom thi thể đến đó và dùng lửa hỏa thiêu.

Bọn lính man rợ được thông báo có khoảng 1000 học sinh trốn ở gần khách sạn Bắc Kinh, khu đường Chính Nghĩa, khi những học sinh này vừa kéo vào thì bị lính mai phục chờ sẵn và nổ súng càn quét. Ngay cả xe cấp cứu của Quân đoàn 27 đến Thiên An Môn chi viện cũng bị chính những tên đồng đội điên cuồng này xả súng vào.

Gián điệp của Mỹ nằm trong Quân đoàn 27 còn cho biết, bọn chúng ra tay khủng khiếp như thế là hoàn toàn là phục tùng mệnh lệnh của cấp trên.

Nhưng hồ sơ của Nhà Trắng còn kể lại tình hình nội bộ trong quân đội Trung Quốc khi đó, ví dụ như một quan chức trong đội quân ở Thẩm Dương sau khi biết tin bạn mình bị Quân đoàn 27 giết hại liền đến trước xe bọc thép của Quân đoàn 27 chửi mắng và lập tức bị một phát súng vào đùi; một quân nhân Thẩm Dương về quê nhà lấy vũ khí rồi trở lại Bắc Kinh liều chết với Quân đoàn 27.

 thien-an-mon-5
Vụ thảm sát Thiên An Môn

Quân đội ở Tân Cương, Giang Tây, Sơn Đông cũng đến Bắc Kinh đối đầu với Quân đoàn 27.

Giang Trạch Dân được chọn vì “công lao” tắm máu người dân tại Quảng trường Thiên An Môn

Nhiều người đều biết, ông Giang Trạch Dân được lên nắm quyền lực tối cao sau sự kiện Thiên An Môn. Hồ sơ mật của Nhà Trắng cũng đề cập, Bí thư Thành ủy Thượng Hải đương nhiệm Giang Trạch Dân được xem là kẻ được lợi nhiều nhất nhờ công tắm máu tại Thiên An Môn.

Năm 1989, ông Giang là Bí thư Thành ủy Thượng Hải, vào trung tuần tháng 5/1989 làn sóng dân vận lan tới Thượng Hải, mũi nhọn dân chúng chĩa vào ông ta, thời điểm đó báo Kinh tế Thế giới ở Thượng Hải là tờ báo ủng hộ cải cách, vì đăng bài viết tưởng nhớ ông Hồ Diệu Bang nên đã bị Giang đến chỉnh đốn và bị đình bản.

Sau sự kiện Thiên An Môn, người Mỹ mới biết rằng, khi thực hiện lệnh giới nghiêm vào ngày 20/5 tại Bắc Kinh, ông Giang đã được ông Đặng Tiểu Bình hứa sẽ cho lên thay ông Triệu Tử Dương. Ông Giang được chọn là vì mạnh tay xử lý Báo Kinh tế Thế giới, và hùa theo bài Xã luận 426 trên Nhân dân Nhật báo.

Trong đó, sự kiện của Báo Kinh tế Thế giới là tâm điểm dẫn đến Phong trào Dân chủ Học sinh Sinh viên năm 1989.

Trong “Nhật ký Lý Bằng” viết, trong đêm xảy sự kiện Thiên An Môn, ông Giang Trạch Dân ở ngay gần Thiên An Môn để chỉ huy “chiến trường”.

Cuốn Nhật ký còn chỉ ra, ngày 3/6/1989, ông Đặng Tiểu Bình đã phê chuẩn phương án đàn áp phong trào vào tối hôm đó, ông Giang “trú tại lầu 4 tòa nhà của lực lượng Cảnh vệ, có thể quan sát mọi động thái tại Quảng trường Thiên An Môn qua cửa sổ.”

thien-an-mon-6
Giang Trạch Dân bước lên đỉnh quyền lực sau sự kiện Thiên An Môn

Tháng 1/2011, nhà đấu tranh nhân quyền Ngụy Kinh Sinh sống lưu vong ở ngoài Trung Quốc Đại Lục đã có bài viết tiết lộ, nhiều người không biết, trước sự kiện Thiên An Môn ngày 4/6/1989, ông Giang Trạch Dân đã được xem như là Tổng Bí thư, vì thế mới có thể vào thành Bắc Kinh chỉ huy cuộc tàn sát. Tội ác của ông Giang trong vụ thảm sát này là rõ như ban ngày

Cùng với việc ông Giang lên nắm quyền, ông Triệu Tử Dương vì phản đối đàn áp phong trào dân chủ Thiên An Môn 1989 nên đã bị mất chức, sau đó bị giam lỏng tại số 6 Hồ Đồng, Phú Cường, Bắc Kinh, đến năm 2005 thì qua đời ở tuổi 85.

Vào năm 2002, khi ông Giang mãn nhiệm kỳ Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, ông ta đã đưa ra một số quy định cho các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, trong đó có quy định là “không được lật lại vụ án tại Quảng trường Thiên An Môn.”

Nguyên nhân của Quy định này là vì chính ông ta là nhân vật chủ mưu và cũng là kẻ giành được lợi ích nhiều nhất.

Nguồn : http://www.vtc.vn/tai-lieu-tuyet-mat-cua-cia-ve-vu-tham-sat-thien-an-mon-1989-d245646.html

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

GÓC NHÌN MỚI VỀ GIA LONG

GIA LONG NGUYỄN ÁNH

GÓC NHÌN LỊCH SỬ NÀO CHO ÔNG?

Nguồn :Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam (Viet Nam War)
Post ngảy June 14,2016

Ta sẽ bắt đầu câu chuyện này vào một ngày mùa xuân của năm 1777, Nguyễn Huệ thống lĩnh một đạo quân Tây Sơn đánh thẳng vào Gia Định. Nơi trú ẩn cuối cùng của chúa Nguyễn. Gia Định nhanh chóng thất thủ. Và cuộc tàn sát bắt đầu. Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và cháu trai Nguyễn Phúc Đồng đều bị giết, chưa kể hàng chục người khác trong hoàng tộc. Trong cơn binh loạn. Chỉ có một ông hoàng duy nhất chạy thoát khỏi cuộc tàn sát.

Kẻ hoàng tộc cuối cùng của nhà Nguyễn đó tên là Nguyễn Phúc Ánh. Hay còn gọi là Nguyễn Ánh. Nhân vật của chúng ta trong câu chuyện hôm nay.

Năm đó Nguyễn Ánh 15 tuổi. Chứng kiến tất cả người thân chết về tay Tây Sơn. Ông mang trong mình một mối hận không bao giờ rửa sạch. Ông trốn về tận Cà Mau, lưu lạc ra đảo Thổ Chu. Và sau khi nghe tin Nguyễn Huệ đã rút về. Liền kéo đến Sa Đéc, Long Xuyên, đưa lời hịch kêu gọi và đến tháng 11/1777, cùng đoàn quân mang áo tang tấn công Gia Định. Và lấy lại thành.

Trong vòng 5 năm, Nguyễn Ánh thể hiện rõ tầm nhìn chính trị của mình khi sắp đặt việc quân, quản lý hành chính, lập mối bang giao với Chân Lạp, vỗ về dân chúng. Nguyễn Ánh đã biến cái tên mình trở nên ăn sâu bén rễ trong lòng dân đất Gia Định.
Năm 1782, Nguyễn Huệ lần thứ hai đánh thẳng vào Gia Định. Cùng với anh trai Nguyễn Nhạc đưa hàng trăm chiến thuyền xuống Nam. Trước sức mạnh khủng khiếp của Tây Sơn, quân Nguyễn đại bại nhanh chóng. Nhưng một lần nữa, Nguyễn Ánh lại chạy thoát. Lần này thảm hơn lần trước. Đợt này ngài phải chạy ra đảo Phú Quốc, ăn cỏ và nuốt lõi chuối để cầm hơi.

Chúng ta nói thêm về chiến dịch thứ hai này. Quân Tây Sơn mắc hai sai lầm.Thứ nhất là phá tan Cù Lao Phố (Biên Hòa hiện nay), đó là một điểm giao thương quan trọng, phồn hoa đô hội và phát triển kinh tế. Đồng thời Nguyễn Nhạc sai giết hàng trăm thương nhân Hoa kiều. Gây ra mối phẫn uất cho người Hoa và họ chuyển sang ủng hộ Nguyễn Ánh. Sai lầm thứ hai là tuy khiến Chân Lạp thần phục nhưng lại để một cánh quân ở lại đóng Gia Định rồi lại kéo về. Và Nguyễn Ánh nhân cơ hội đó, quay trở lại lần 2.

Tức giận, một năm sau, Nguyễn Huệ lại vào đánh. Lợi dụng sức gió và thủy triều, Bắc Bình Vương đánh tan hạm đội thủy quân của Nguyễn Ánh. Nhưng Nguyễn Ánh lại một lần nữa chạy thoát. Ông chạy dài ra Phú Quốc.

3 lần bị quân Tây Sơn mà cụ thể là Nguyễn Huệ đích thân cầm quân đánh không còn mảnh giáp. Trong cơn túng quẫn, thấy sức mình không đủ. Nguyễn Ánh nghĩ đến việc nhờ ngoại bang trợ giúp để lấy lại đất của tổ tiên. Và lần này là nhờ vua Xiêm. Quân Xiêm cho ông 20.000 quân và 300 chiến thuyền.

Năm 1785, quân Xiêm bước vào một trận địa mà sau này rền vang non sông. Đưa tên tuổi Nguyễn Huệ lên phần rực rỡ và khiến hình ảnh Nguyễn Ánh trở nên xấu xí: Rạch Gầm – Xoài Mút. Không cần nói thêm về Nguyễn Huệ và trận đánh này. Chỉ biết sau đó quân Xiêm “Ngoài miệng thì nói khoác mà sau lưng sợ Huệ như sợ cọp”.

Trong cơn khói lửa ngút trời ấy, Nguyễn Ánh lại vẫn chạy thoát. Thường có câu “Kẻ nào suýt chết thì sẽ sống rất dai.” Câu này chắc chắn là ứng với Nguyễn Ánh.

4 lần đại bại trước Nguyễn Huệ, kể cả nhờ ngoại bang trợ giúp. Không còn nghi ngờ gì nữa. Trên bình diện quân sự mà xét, Nguyễn Ánh không phải là đối thủ của Nguyễn Huệ. Nhưng Nguyễn Ánh cũng chỉ thua mỗi Nguyễn Huệ, chứ ông không thua Tây Sơn. Hãy để ý mỗi lần Nguyễn Ánh vùng lên, ông đều dễ dàng đánh bại quân Tây Sơn đồn trú. Và lần nào Tây Sơn cũng phải đợi Nguyễn Huệ vào “dọn dẹp”.

Quang Trung biết rõ tầm chiến lược của vùng đất Gia Định, cũng là người biết đánh giá rõ ràng nhất Nguyễn Ánh là đối thủ đáng gờm nhất của Tây Sơn sau 4, 5 lần “chết đi sống lại”. Năm 1792, ngài sắp đặt cuộc tấn công thứ 5 trong đó cắt mọi ngả đường của Nguyễn Ánh. Với kế hoạch quy mô và đáng sợ đó, Quang Trung đã gián tiếp dành lời khen cho kẻ bại tướng của mình. Nhưng khắp cả gầm trời này, cũng chỉ có Quang Trung là có khả năng tiêu diệt được Nguyễn Ánh. Không có Quang Trung, Tây Sơn không còn ai là đối thủ của Nguyễn Ánh.

Năm 1792, Quang Trung mất. Gió đã đổi chiều. Đấy gọi là chân mệnh thiên tử của Nguyễn Ánh.

Những cái chết hóa thân thành bất tử. Đấy là một trong những lý do khiến Quang Trung Nguyễn Huệ được thờ phụng. Tầm của Quang Trung vượt lên trên một khởi nghĩa nông dân thông thường. Nhưng Quang Trung mất đi, quân Tây Sơn vẫn vẹn nguyên. Tướng thì có Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng. Quân sư thì có Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…. Vậy thì kẻ đánh bại được Tây Sơn mà cả đời Quang Trung gây dựng há là kẻ tầm thường?

***

1. Vậy con người Nguyễn Ánh như thế nào?

Câu chuyện 1:
Ta thường nghe “Lê Lai cứu chúa”, khi giặc Minh truy sát Lê Lợi. Lê Lai đã khoác người chiếc áo của Lê Lợi để đánh lừa giặc Minh, chịu chết thay cho chủ. Nhưng có ai biết cho lịch sử Việt Nam còn một câu chuyện tương tự như vậy nữa không?
Tháng 6 âm lịch năm 1783, quân Tây Sơn kéo ra Đá Chồng truy kích Nguyễn Ánh. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó, một bộ tướng của Nguyễn Ánh tên là Lê Phước Điển đã dùng kế hy sinh, ông mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh. Và chịu bị Tây Sơn bắt nhầm. Giải thoát cho chủ.
=> Bạn đánh giá Nguyễn Ánh tồi tệ thế nào, tôi không cần biết. Nhưng câu chuyện về lòng trung nghĩa này khó có thể đặt ở một vị chúa bình thường.

Câu chuyện 2:
Sau trận Rạch Gầm – Xoài Mút. Nguyễn Ánh bị Tây Sơn truy kích phải trốn đi theo đường thủy qua đảo Thổ Châu rồi về Cổ Cốt với một nhóm nhỏ quân tướng. Thân tướng của ông – Nguyễn Văn Thành: người ngăn cản việc ông cầu viện quân Xiêm đã phải đi làm ăn cướp nuôi chủ và bị đánh suýt mất mạng.
=> Nguyễn Ánh phải là người thế nào mới khiến bộ tướng sẵn sàng chết vì mình như vậy? Tôi có một quan điểm riêng về người lãnh đạo: một người lãnh đạo tốt – xấu không phải theo lịch sử ghi nhận hoặc theo miệng lưỡi thế gian phán xét. Người lãnh đạo tốt là người có quanh mình những cận thần trung thành và sẵn sàng chết vì mình. Sự tôn sùng và kính trọng của kẻ dưới, chính là quy chuẩn của người lãnh đạo giỏi.

Câu chuyện 3:
Người dân miền Trung giai đoạn tranh chấp giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã lưu truyền một câu lục bát thế này “Lạy trời cho cả gió nồm / Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.” Ý câu ca dao đó là mong sao Nguyễn Ánh theo gió đưa chiến thuyền ra Bắc để đánh Tây Sơn.
=> Nguyễn Ánh là người thế nào mà ngoài người dân Gia Định. Còn một bộ phần người dân ở miền Trung và miền Bắc ủng hộ? Nếu thật sự xấu xa như chúng ta đã nghe, đã đọc, thì liệu có đáng để lòng dân phải hướng về? “Dân không thờ sai ai bao giờ”. Phải có cái gì tốt. Mới khiến dân gọi tên.
Và Tây Sơn, cuộc khởi nghĩa nông dân ấy khi có chính quyền đã mất chất như thế nào? Khi Quang Trung mất đi đã lục đục đến mức độ nào? Để khiến người dân phải lánh xa?
Đó là câu hỏi mà chúng ta cần tự hỏi mình trước khi phán xét Nguyễn Ánh.

2. Thống nhất đất nước sau hơn 2 thế kỷ nội chiến?

Sẽ không có ai rực rỡ hơn Quang Trung trong thế kỷ 18. Trong cuộc nội chiến đẫm máu của dân tộc thời đại phong kiến từ Nam Triều – Bắc Triều đến Trịnh Nguyễn phân tranh khiến bao dân lầm than oán trách. Nguyễn Huệ đã xuất hiện. Thiên tài quân sự ấy quét sạch mọi tàn dư phong kiến từ Nam đến Bắc, đánh tan nhà Trịnh, đuổi cùng nhà Nguyễn. Và thậm chí còn “thổi bay” cả hai đế quốc mạnh nhất khu vực giai đoạn ấy: Xiêm và Mãn Thanh. Với những chiến công to lớn ấy, ngài được xưng tụng ngàn đời. Và có thể coi là người dọn sạch mặt bằng Việt Nam, đặt nền móng vững bền cho dân tộc.

Nhưng.
Số phận không chọn ngài.
Số phận không chọn ngài ở 3 điểm:

1/ Trời đã lấy đi sinh mệnh của người anh hùng áo vải này quá sớm. Quá nhiều dự định dở dang.

2/ Ngài đã gieo ác với nhà Nguyễn quá nhiều. Vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790. Ngài đã gieo một cái nhân ác. Và đó là lý do cho sự trả thù tàn khốc đến tiểu nhân mà hậu thế không bao giờ tha thứ cho Nguyễn Ánh sau này. Nhưng lỗi cũng từ ngài.

3/ Tây Sơn chỉ có Quang Trung là có tầm. Chứ thực tế nó mục ruỗng từ bên trong. Mất Quang Trung là mất cột chống vĩ đại nhất của tập đoàn quân sự mạnh nhất lịch sử Việt Nam: Tây Sơn. Nguyễn Lữ chỉ là kẻ bất lực, tệ đến mức mà Nguyễn Ánh đánh đến đâu là chạy đến đấy. Nguyễn Nhạc lúc mới xuất hiện anh hùng bao nhiêu thì càng về sau càng thể hiện bộ mặt tiểu nhân ti tiện, ghen tị, dốt nát, kiêu ngạo và dâm loạn bấy nhiêu.

Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc từng chiến tranh nhỏ. Đó là sự phân rã của Tây Sơn. Tây Sơn nắm quyền nhưng lại tách ra 3 vùng. Và nó cần hoặc là Quang Trung tàn bạo như Lý Thế Dân ở Huyền Vũ Môn. Hoặc cần kẻ đứng ngoài dẹp sạch nó cho đất nước thống nhất.

Vế 1 không thực hiện được. Dù Quang Trung sẵn sàng làm điều đó nếu kế hoạch 1792 của ngài thành công. Thực hiện theo kế “Mượn đường diệt Quắc”. Nhưng như đã nói ở trên, số phận không chọn ngài. Và chiến công thống nhất dân tộc là của Nguyễn Ánh. Dù tầm vóc quân sự của Nguyễn Vương là không đủ khả năng cho việc chấm dứt Trịnh Nguyễn phân tranh lẫn đánh tan quân xâm lược hai đầu đất nước (Xiêm và Mãn Thanh). Quang Trung đã làm việc đó thay cho. Nhưng không thể nói rằng Gia Long bất tài. Chính sự kiên gan bền chí, tài năng quân sự, chính trị linh mẫn mới giúp ngài làm nên sự nghiệp sau bao lần bị vùi xuống bùn đen.

3. Nguyễn Ánh là kẻ “rước voi về giày mả tổ”?

Cũng như việc trả thù nhà Tây Sơn man rợ đến đi ngược với mọi truyền thống tốt đẹp của tổ tiên. Chuyện Nguyễn Ánh viện quân Xiêm, nhờ quân Pháp, và dự định cho hai thuyền chở lương ra cho quân Thanh là 2 chuyện mà hậu thế không bao giờ tha thứ cho Nguyễn Ánh.

Nhưng hãy chú ý. Dưới thời nhà Nguyễn, diện tích Việt Nam là rộng lớn nhất lịch sử, và trong thời Gia Long không có ai động vào được VN.

Nguyễn Ánh là một tài năng gian hùng bất chấp sĩ diện để nhờ ngoại bang khi loạn lạc. Nhưng sau khi ngoại bang không giúp gì được, ông tự mình đi lên và chiến thắng Tây Sơn đã không còn Quang Trung. Và khi ông có được dải thiên hạ nước Nam thì đó là một vị vua khác.

Chú ý cái tên Gia Long mà Nguyễn Ánh đặt rất là ý nghĩa. Gia là Gia Định. Long là Thăng Long. Ý bảo quốc gia đã liền một mối.

Lên nắm quyền. Gia Long ra uy với quân Xiêm, cùng nhau chia ảnh hưởng với Chân Lạp, ông cấm người Pháp đồn trú, hạn chế giao thương và chỉ cho một số chức quan hữu danh vô thực, không giao thương với nước Anh, đồng thời đặt yêu sách với Mãn Thanh. Không một mảnh đất nào của dân tộc thời nhà Nguyễn mất đi.

Gia Long coi trọng giáo dục. Không có một vị vua nào coi trọng giáo dục cao hơn ông. Kẻ sĩ trong tầng lớp xã hội cực kỳ được coi trọng.

Thời đại nhà Nguyễn tuyệt không thể phủ nhận hai di sản để lại cho dân tộc: thứ nhất là kiến trúc và thứ hai là văn học. Với đền đài miếu mạo ở cung đình Huế, với di sản Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thực sự thời nhà Nguyễn là một giai đoạn rực rỡ về kiến trúc và thơ văn của Việt Nam.

Chúng ta trách nhà Nguyễn “bế quan tỏa cảng”.

Không hẳn. Gia Định trấn vẫn là nơi buôn bán sầm uất. Gia Long vẫn rất phát triển các trung tâm như Hội An, Phố Hiến. Và thực tế hãy hiểu cho Gia Long ở giai đoạn này. Khi bạn nhìn sang bên láng giếng và thấy tấm gương tày liếp của Ấn Độ và Singapore nằm sờ sờ ra trước mắt (bị Anh chiếm làm thuộc địa vì để Anh vào quá sâu), nên ngài rất đề phòng với phương Tây. Kể cả việc lựa chọn Minh Mạng cũng vì Minh Mạng theo Nho học hơn là Tây Học.

Gia Long đã làm mọi cách để giữ được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc trong thời đại Nho giáo đó của ngài. Cái ngày mà Gia Long mất ông bảo Minh Mạng rằng “Con hãy cư xử lịch sự với người Pháp. Nhưng cần cẩn thận họ”.

Việc nhà Nguyễn là triều đại bị Pháp xâm lược là một vấn đề liên quan đến thời đại, không phải vấn đề cá nhân.

Nhà Nguyễn mất nước là vì tư duy quá trì trệ và thiếu đổi mới chứ không phải họ không yêu nước. Đây là một vấn đề liên quan đến bài học: một tấm gương về sự uyển chuyển phù hợp với hoàn cảnh thế giới.

***

4. Công lao của Nguyễn Ánh để cho hậu thế?

Hãy nhìn khắp cả đất nước Việt Nam này, có con đường nào mang tên Gia Long không? Chẳng lẽ thủy tổ hoàng đế của nhà Nguyễn lại không xứng đáng cho một tên đường. Bây giờ, ta hãy coi ngài đã làm được những gì nhé.

– Có một câu chuyện trong nền kinh tế thị trường ngày nay mà chúng ta để ý sẽ thấy. Các các thương hiệu lớn nước ngoài khi muốn xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Họ luôn chọn SaiGon đầu tiên. Nếu tại SaiGon mà ok thì mới tiến hành đánh ra Hà Nội. Ví dụ: KFC, McDonald’s, Starbuck…

Tại sao lại vậy?

Bởi tính người miền Nam dễ chịu và phóng khoáng. Sẵn sàng chấp nhận cái mới dễ hơn người miền Bắc. Ok. Một lý do. Lý do thứ hai là bản năng người miền Nam ngay từ khi lập quốc vốn đã “thị trường” rồi. Và bạn có biết gốc gác của nó không? Đấy là Nguyễn Ánh những năm đóng quân ở Gia Định để chống Tây Sơn. Ông biến miền Nam thành nơi sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ra toàn Đông Nam Á để đổi lấy các sản phẩm công nghiệp phương Tây, các vũ khí để đánh Tây Sơn.

Ông chính là người đặt nền móng cho kinh tế thị trường ở Miền Nam. Và văn hóa đó còn đến ngày nay.

– Hôm nay 14/3/2016, kỷ niệm 28 năm trận hải chiến Gạc Ma. Nơi Trung Quốc nổ súng chiếm đảo Gạc Ma. Đánh chìm hai tàu hải quân và bắn chết 64 chiến sĩ Việt Nam ta. Hãy dành 1 phút tưởng niệm cho vong linh những con người đã ngã xuống vì biển đảo dân tộc. Cho đến bây giờ ta vẫn thi gan với Trung Quốc ngoài bờ biển. Và vẫn nói cho thế giới biết rằng: Các tư liệu lịch sử cho thấy đây là mảnh đất tổ tiên của dân tộc này.

Vậy tổ tiên đó là ai? Đó là Gia Long.

Gia Long là vị vua đã chính thức xác định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực quần đảo Hoàng Sa khi ông chiếm đóng quần đảo này năm 1816. Nếu chưa bao giờ quên rằng “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam”, thì hãy nhớ rằng cái tên mà ta đang tranh luận là người đã lấy hai quần đảo đó về cho dân tộc.

– Một năm về trước, xảy ra vấn đề tranh chấp biên giới giữa Campuchia và Việt Nam. Campuchia đòi lại miền Tây. Chúng ta phản đối. Các anh hùng bàn phím (như thường lệ) đòi đưa 5 vạn quân qua đánh Campuchia. (IS mà còn đòi bán sim, Cam là cái chi).

Hãy cùng xem lại lịch sử.

Gốc gác ngày xưa Chân Lạp của người Khơ Me. Nhưng với tầm nhìn chính trị, quân sự, cùng sự chăm lo cho dân trong việc khai khoản đất hoang. 9 đời chúa Nguyễn và kế tục là vua Gia Long đã đưa cả dân tộc này phát triển từ Phú Yên đi tận đến Châu Đốc, Cà Mau. Một mảnh đất trù phú xứng đáng “rừng vàng biển bạc”.

Một Việt Nam rộng nhất lịch sử mà chẳng cần đòi Lưỡng Quảng. Một dòng tộc nhà Nguyễn đã mở rộng số diện tích cho dân tộc hơn cả 5 triều Đinh, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê cộng lại. Chưa kể là các công trình khai khẩn đất hoang ở các tỉnh Thái Bình và Ninh Bình trong thời đại này. Và đặc biệt là kênh Vĩnh Tế có giá trị lớn về các mặt trị thủy, giao thông, thương mại, biên phòng.

Cái công sức kỳ vĩ đó không xứng đáng để đặt tên đường ư? Hãy tự vấn lương tâm của mình.

***

Kết luận:

Nhà Nguyễn tồn tại gần 150 năm. Trong gần 150 năm ấy, sử sách gần như lãng quên Quang Trung. Nhưng người dân vẫn thầm lặng thờ cúng và kể các câu chuyện về vua Quang Trung.

Bây giờ chúng ta lại đang thấy người ta lãng quên đi Gia Long. Sự lãng quên Quang Trung bởi Quang Trung thuộc về nông dân trong thời đại quý tộc cầm quyền.

Sự lãng quên Gia Long là vấn đề vô sản mác xít. Nhưng lịch sử là câu chuyện của lịch sử. Hậu thế chúng ta thời đại bây giờ cần nhìn về cha ông với cái nhìn công bằng nhất. Đã có một người tạo cho đất nước Việt Nam thế cong cong hình chữ S ngày hôm nay.

Cái gì cũng vậy, luôn có mặt tốt, mặt xấu. Không có gì tốt hoàn toàn, chẳng có gì xấu hoàn toàn.

Bên cạnh Quang Trung có những người sẵn sàng chết vì ông, thì bên cạnh Gia Long cũng có người suốt 25 năm bôn ba chịu bao đắng cay khổ nhục cùng Gia Long.

Và từ cậu bé 15 tuổi luôn bị truy sát, không một tấc đất, chỉ vài ba tùy tùng, sống bằng ngọn cỏ, lõi chuối vẫn vùng lên đánh bại kẻ thù, làm vua thiên hạ, lấy được một dải đất từ Nam chí Bắc. Thì người đó đừng bảo họ tầm thường. Cỡ anh Leonardo DiCaprio trong phim mới đoạt giải Oscar vừa qua hay vụ trở về từ cõi chết của “Bá tước Monte Cristo” chỉ là … muỗi so với Gia Long.

Than ôi ! Treo lên đỉnh cao vạn trượng không thấy Quang Trung đâu.
Nhìn khắp góc bể tự hỏi Gia Long nơi nào.

Hai con người ấy, cùng nhau tạo dựng nên một phần lịch sử dân tộc.
Hậu thế nhìn về với bao nhiêu cảm khái. Hận thù nhau tro bụi lịch sử làm cái gì cơ chứ?

(Theo © Dũng Phan
SaiGon 14 /3 / 2016.
Nguồn: The X File Of History)

 

Image may contain: one or more people
Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH CẢI CÁCH

ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH CẢI CÁCH
Tác giả:Thầy Phêrô PHẠM CÔNG THUẬN (1950-2015)
Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn

Cách đây trên 10 thế kỷ, Đức Đạt Ma Thiền Sư từ Ấn Độ sang Trung Quốc truyền bá đạo Phật, thâu nhận nhiều đệ tử. Nhưng vì có những xung đột thường xuyên với đạo cũ của nhân dân, nên các đệ tử học võ để tự vệ. Khi học võ có một số đệ tử sức khỏe yếu kém không tập được, nên Đức Đạt Ma Tổ Sư truyền dạy một phương pháp tập luyện gọi là “DỊCH CÂN KINH” để tăng thể lực cho các đệ tử.

Ngày nay qua nhiều nghiên cứu, y học Trung Quốc nhận thấy rằng phương pháp này có thể trị được rất nhiều bệnh, nhưng muốn việc trị bệnh được nhanh chóng và hiệu quả hơn thì phải đổi thế đánh tay, nên được gọi là “Dịch Cân Kinh Cải Cách”.

Đây là một Phương Pháp trị bệnh không dùng thuốc, kể cả một số bệnh nan y như: Chàm (exzéma) – Huyết áp cao – Huyết áp thấp – Suy nhược thần kinh – Suyễn – Ung Thư (giai đoạn 1) – Viêm mũi dị ứng – Viêm thấp khớp – Xơ cứng động mạch – Xơ gan (giai đoạn 1) – Các bệnh về Tim – Gan – Thận – Hệ Tuần Hoàn – Hệ Hô Hấp – Hệ Tiêu Hóa – Phụ Khoa, vv…

XIN ĐỌC THẬT KỸ CÁC PHẦN DƯỚI ĐÂY TRƯỚC KHI TẬP
· Tư Thế: (xem hình vẽ)

1. Đứng hai bàn chân song song và dang rộng khoảng 30 cm.
2. 10 ngón chân bấu xuống đất, gồng cơ đùi – cơ mông và nhíu hậu môn.
3. Đầu, mình và chân phải thẳng, không được cúi ra trước hoặc ngửa ra sau trong lúc tập (như vậy hai chân thì gồng cứng, còn thân mình kể cả 2 cánh tay thì thả lỏng.
4. Mắt nhìn thẳng vào một điểm trước mặt, không xoay qua xoay lại.
5. Hơi thở binh thường (không theo nhịp đánh tay).
6. Tâm trí không được suy nghĩ vẩn vơ, phải tập trung vào việc đếm số lần đánh tay.
7. Thường xuyên kiểm tra lại việc gồng cứng các cơ chân và nhíu hậu môn.

· Cách Tập:

Sau khi đã chuẩn bị tư thế xong thì:
– Đưa hai tay song song ra trước, ngang tầm thắt lưng, bàn tay rũ xuống (các ngón tay không duỗi thẳng, không được chạm vào nhau, không được gồng), lòng bàn tay hướng xuống đất, hạ hai tay xuống ngang đùi thì lật ngang bàn tay (lòng bàn tay hướng vô đùi) và hất mạnh tay ra sau – đây là thế “Cải cách” – còn “Đạt Ma Dịch Cân Kinh” thì lòng bàn tay hướng ra sau, cách này dễ tập hơn, nhưng chậm kết quả hơn – Cố gắng giữ hai tay song song, đừng để bẹt ra quá. – Sau đó dùng một lực nhẹ đưa tay về phía trước, lòng bàn tay hướng xuống đất. Cứ tiếp tục đánh đều như vậy cho tới khi đủ số mới ngưng tập.

– LƯU Ý: Đọc thì thấy hơi chi tiết rườm rà, nhưng tập thì rất đơn giản.

· Cơ Chế:

Trong cuộc sống hằng ngày, con người thường chìm đắm trong danh lợi, lo quanh nghĩ quẩn, buồn phiền, ích kỷ, ganh ghét, hận thù, lại thêm tửu sắc vô độ, coi thường dinh dưỡng. Họ chỉ thấy lợi nhỏ mà quên hại lớn. Lo làm giàu vật chất mà quên tu dưỡng tinh thần, vì thế tâm trí đảo điên (STRESS), thân thể suy đồi, bệnh tật do đó mà sinh ra. Thêm vào đó, mỗi ngày cơ thể chúng ta bị nhiễm độc do đồ ăn, thức uống, thuốc tây chứa đầy hóa chất. Chất độc vào ngày càng nhiều, gây ứ nghẽn chỗ này, bế tắc chỗ kia, trăm bệnh nổi lên. Khi tập, tâm trí tập trung vào các động tác tay, không suy nghĩ vẩn vơ, thần kinh được thư giãn, được ổn định từ từ. Khi hất mạnh tay ra sau, vai, lưng ngực, bụng giật lên. Khi đưa tay về trước thì vai, lưng, ngực, bụng hạ xuống. Đó là hình thức xoa bóp sâu các nội tạng, các hệ cơ ngực, bụng, và hệ cơ lưng, nơi đây, theo Y Học Hiện Đại, từ cổ tới mông, dọc hai bên cột sống có 33 đôi dây thần kinh tạo thành Hệ Thần Kinh Thực Vật giữ nhiệm vụ vô cùng quan trọng: điều khiển sự ổn định môi trường bên trong cơ thể (nội môi).

Theo học thuyết YOGA của Ấn Độ, dọc theo đường giữa cột sống lưng – đầu – ngực – bụng của chúng ta có những điểm gọi là Luân Xa. Các Luân Xa này hút lấy sinh khí của trời đất, năng lượng của vũ trụ để tăng sức sống, tăng sức đề kháng cho cơ thể chống lại mọi bệnh tật.

Theo học thuyết KINH MẠCH của Trung Quốc, cơ thể chúng ta có 12 đường Kinh Chính gồm 6 đường Kinh Âm và 6 đường Kinh Dương. Các đường kinh này đều đi qua VAI – LƯNG – NGỰC – BỤNG. Ngoài ra, phần ngực – bụng còn có mạch Nhâm giữ nhiệm vụ liên hệ với 6 đường KINH ÂM và điều hòa phần âm của cơ thể, Mạch Xung và Mạch Đới liên quan nhiều đến sinh lý và bệnh lý của phụ nữ, phần lưng có Mạch Đốc liên hệ với 6 KINH DƯƠNG và điều hòa Dương Khí toàn thân, Kinh Túc Thái Dương Bàng Quang có các Du Huyệt liên quan đến lục phủ ngũ tạng.

Tóm lại, cả Y Học Hện Đại Phương Tây và Y Học Cổ Truyền Phương Đông đều nhìn nhận: vùng VAI – LƯNG – NGỰC – BỤNG có những hệ Thần Kinh, hệ Kinh Mạch và Hệ Luân Xa vô cùng quan trọng cho sự sống con người. Phương pháp này là một phương pháp Tự Xoa Bóp tác động chủ yếu vào VAI – LƯNG – NGỰC – BỤNG và LỤC PHỦ NGŨ TẠNG làm cho thần kinh hưng phấn, làm thông thoáng các luân xa, làm đả thông các kinh mạch, đưa thêm máu nuôi vào các cơ quan, đặc biệt là Não, đồng thời loại thải các chất độc ra bên ngoài bằng đường Mồ Hôi, đường Tiều và đường Hô Hấp. Tuần hoàn khí huyết được thông, thần kinh được ổn định, việc điều khiển các cơ quan nội tạng hoạt động được tốt hơn, sức đề kháng tăng giúp cho khả năng “Tự Điều Chỉnh” (auto – regulation) của cơ thể mạnh lên để ổn định lại các rối loạn, lập lại thế quân bình Âm Dương trong cơ thể thì chắc chắn trăm bệnh sẽ tự lui, tự biến mất, đem lại cho mọi người một sức khỏe thật tuyệt vời, một cuộc sống thật tươi vui, hạnh phúc và một xã hội phồn vinh.
THÂN CƯỜNG, BỆNH NHƯỢC THÂN NHƯỢC, BỆNH CƯỜNG THỐNG TẮC BẤT THÔNG THÔNG TẮC BẤT THỐNG

· HIỆU QUẢ THẬT DIỆU KỲ

1. Bản thân tôi (người phổ biến cách tập này) bị viêm mũi dị ứng liên tục trong suốt 10 năm. Hằng đêm vào khoảng 3-4 giờ sáng, tôi bị hắt xì mấy chục lần, đồng thời nước mũi chảy ra ướt đẫm 2-3 khăn tay. Khi mặt trời lên cao, khoảng 9-10 giờ thì mũi khô và không bị hắt xì nữa. Mỗi lần quét nhà hít phải bụi hoặc tình cờ hít phải khí độc (tà khí) thì lập tức tôi bị hắt xì và nước mũi chảy ra, rất khó chịu. Uống bao nhiêu thuốc, đi bao nhiêu thầy cũng không khỏi. Từ khi biết bài tập “Dịch Cân Kinh” này, tôi tập 2 lần mỗi ngày, 1800 cái /1 lần / 30 phút, trong suốt 1 năm (1992) và khỏi hẳn từ đó đến nay, không hề tái phát trở lại. Tôi chỉ kiên trì tập mà thôi, không dùng bất kỳ loại thuốc nào cả. Vừa tập vừa phải kiêng cữ ăn, uống đồ lạnh và hút thuốc. Kết quả thật diệu kỳ.

2. Tôi cũng bị đau bao tử, đau lâm râm vùng thượng vị (gần chấn thủy). Nhờ tập bài này, tôi không còn bị đau nữa. Ăn đồ chua không còn thấy khó chịu nữa.

3. Năm 1986, tôi bị đau thần kinh tọa cả hai chân (thường chỉ bị nột chân). Xách đồ nặng, đạp xe, ngồi ghế cứng đều đau. Đứng chưa tới 5 phút hai bắp chân muốn rã ra, mỏi ghê gớm, phải ngồi thì mới đỡ. Những đêm trời lạnh đau nhức lắm. Ít có đêm nào được an giấc, nằm thế nào cũng đau nhức từ mông xuống tới bàn chân. Để chân xuống giường (vạt giường) không tới 1 phút thì có cảm giác nóng rát như bị lửa đốt, bị phỏng, không thể nào chịu được, phải gác 2 chân lên 1 cái mền, hoặc 1 cái gối thì mới đỡ. Bị như vậy trong nhiều năm, tôi vẫn kiên trì tập luyện “Dịch Cân Kinh” từ năm 1992 và kiêng cữ: không xách nặng, không đi xe đạp, không dùng quạt máy (tránh chỗ nhiều gió), không ngồi ghế cứng, không ăn đồ phong (bò, gà, đồ biển, măng, các loại mắm, và các loại cà) và không tắm nước lạnh. Tôi cũng không dùng một loại thuốc nào cả mà cũng không có châm cứu nữa. Từ năm 1997 đến nay, tôi đã khỏi hoàn toàn. Bây giờ tôi có thể đứng 1-2 tiếng không sao cả và cũng không còn nhức nhối gì nữa cả.

4. Tôi còn mắc 1 bệnh nan y nữa, đó là bệnh dị ứng. Mỗi khi ăn đồ biển, đồ phong (cá, bò, gà, vịt…) là tôi bị nổi ngứa. Hơn nữa, 1 năm 2 lần, từ mùa nắng sang mùa mưa và ngược lại (chuyển mùa) thì người tôi sưng phù, mắt môi sưng to, ăn rất khó, da thịt căng cứng, người nặng nề và ngứa rất khó chịu. Tôi bị dị ứng thức ăn, khí độc và cả thời tiết nữa. Uống nhiều thuốc, chữa nhiều thầy, bà con chòm xóm, người thân chỉ giúp cách này, cách nọ cũng không hết. Nhưng khi tập bài “Dịch Cân Kinh” này được 2 năm (1992 – 1994) thì từ đó đến nay, tôi không còn bị xưng phù như trước nữa, khỏi hẳn luôn.

5. Tôi cũng bị chàm (eczema) ở mu hai bàn chân suốt trên 10 năm. Lúc đầu tôi uống thuốc, bôi thuốc thì đỡ ngứa, nhưng không hết hẳn. Sau đó tôi không dùng thuốc nữa, chỉ kiên trì tập bài “Dịch Cân Kinh” này mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút, đồng thời kiêng cữ không ăn đồ ăn phong (bò, gà, đồ biển, măng), không dùng xà bông, bàn chải để chà rửa và mỗi ngày uống trên 2.5 lít nước. Tập được 2 năm, tôi đã khỏi hẳn. Hiện nay, 2 bàn chân không còn dấu vết gì của chàm nữa. Thật diệu kỳ!

6. Qua những kết quả diệu kỳ vừa nêu trên, đối với bản thân tôi, tôi quí bài tập này hơn vàng, hơn cả ăn nữa, nên tôi xin mạnh dạn giới thiệu tới mọi người phương pháp “Dịch Cân Kinh Cải Cách” này để giúp quí ông bà, anh chị em chúng ta tìm lại cho mình một sức khỏe thật tốt, một gia đình thật yên vui, hạnh phúc và một xã hội ngày thêm tốt đẹp hơn.

Thầy thuốc hay nhất là chính mình

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý (nên đọc thật kỹ trước khi tập):

1. Phải luôn kiểm tra: hai bàn chân song song – bấu 10 ngón chân – gồng cứng cơ mông – cơ đùi – nhíu hậu môn.

2. Hai tay luôn thả lỏng – khi bắt đầu tập, đánh chậm và nhẹ vài chục lần, sau đó đánh nhanh. Vài phút đầu, đánh xuôi tay, sau đó đánh lật ngang bàn tay (thế cải cách). Tuần lễ đầu, mỗi lần tập tối đa là 200 cái thôi (tay ra trước là đếm). Sau đó mỗi ngày tăng thêm 1 phút cho mỗi lần tập, cho đến khi đạt được 1800 lần / 30 phút / 1 lần tập (1 nhịp đánh tay – tay ở trước đánh ra sau, rồi trở về lại đằng trước – 1 giây), và cứ giữ như vậy đến suốt đời. Đối với người bị bệnh nặng như ung, bướu…thì có thể đánh 3000 – 4000 lần / 60 phút / 1 lần tập, 2 – 3 lần 1 ngày.

Lưu ý: Khi tập thấy chân tê, hai bàn chân nóng ran thì ngưng.

3. Thở bình thường, không theo động tác tay.

4. Tâm trí không được suy nghĩ vẩn vơ, phải tập trung vào việc đếm số lần đánh tay và kiểm tra các cơ chân và việc nhíu hậu môn.

5. Khi tập, vai – lưng – ngực – bụng phải giật mạnh lên thì mới có khả năng trị bệnh, nếu không thì không có hiệu quả. Theo kinh nghiệm trong tháng đầu, vai, hông có thể đau, đừng sợ, cứ tiếp tục tập, sẽ hết.

6. Trong ngày, có thể tập được 4 lần, tối thiểu phải 2 lần. Sáng (khi thức dậy) tập quay mặt hướng Đông, Trưa (trước cơm) quay hướng Tây, Tối (trước khi ngủ) quay hướng Nam. Nhớ luôn luôn: tập khi bụng đói. Uống ½ lít nước ngay trước khi tập. Ăn xong 3 giờ sau mới được tập. Tập xong ½ giờ sau mới được tắm. Khi đang tập hoặc tập xong mà cảm thấy mệt là tập sai hoặc tập quá sức mình, nên xem lại tài liệu thật kỹ (phần: “Những điều cần lưu ý”). Nếu tập đúng và vừa sức mình, thì khi tập xong, cảm thấy khỏe hơn nhiều so với lúc chưa tập, và ăn, ngủ rất ngon.

7. Trong mỗi lần tập, không nên tập ngắt quãng, nghĩa là tập vài phút, rồi nghỉ vài phút, sau đó lại tập tiếp, như vậy không kết quả.

8. Nên tập nơi thoáng mát, yên tĩnh, không có gió luồng. Khi tập không được ở trần, nên mặc đồ mỏng, nhưng không bó sát người.

9. Không nên nôn nóng mà phải từ từ tiến lên, tuy chậm nhưng đem lại hiệu quả rất diệu kỳ. Nôn nóng tiến nhanh sẽ có hại “DỤC TỐC BẤT ĐẠT”.

10. Trong sinh hoạt hằng ngày, cố gắng đừng để thần kinh căng thẳng (nguyên nhân của rất nhiều bệnh) và hạn chế tối đa: rượu, cà phê, thuốc lá, bột ngọt, đường trắng tinh, mỡ động vật, đồ ngọt, đồ chiên xào, đồ nướng, thực phẩm đóng hộp…v.v…Nên ăn ít chất béo, ít thịt, ăn nhiều rau và trái cây tươi, mỗi ngày nên uống nước đun sôi để nguội từ 2 lít đến trên 2.5 lít (chia làm nhiều lần từ 8 – 10 ly), thường xuyên tập luyện, hít thở, nên gần với “Thiên Nhiên” càng nhiều càng tốt thì chắc chắn tinh thần sẽ an vui, thanh thản và sức khỏe sẽ tuyệt vời – “TRƯỜNG SINH BẤT LÃO”.

11. Nếu tập trên nền đất thì nên đi chân không, nếu tập trên nền xi măng, gạch bông thì phải mang dép hoặc tấm chùi chân (thường để ở cửa nhà).

12. Nếu ngưng tập một thời gian dài (vài tháng trở lên), khi tập lại phải tập lại từ đầu, nhưng có thể tăng số lần đánh tay nhanh hơn người mới tập.

· NHỮNG PHẢN ỨNG:
Tập phương pháp này có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải chất độc và ổn định những rối loạn trong cơ thể. Đừng sợ mà ngưng tập, đó là dấu hiệu tốt.
Xin liệt kê một số phản ứng thường gặp:
1. Cảm giác rần rần như kiến bò.
2. Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân đen (bệnh nặng như ung thư).
3. Ngứa (từng chỗ hoặc toàn thân).
4. Ra mồ hôi.
5. Tiểu nhiều.
6. Trung tiện (đánh rắm, địt).
                                                   HẾT
*************************************************
 

 

 

 

 

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

DANH SÁCH TỈNH TRƯỞNG BÌNH LONG TỪ 1956 ĐẾN 1975

Bài viết mới được cập nhật hình ảnh và tin tức
Mời xem

http://nhotrunghocbinhlong.blogspot.com/2016/01/ds-tinh-truong-binh-long-truoc-1975.html 

 

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận

HÀ TĨNH SỨ QUÂN

Hà Tĩnh Sứ Quân.

Tác giả :Bùi Thanh Hiếu
Nguồn :nguoibuongio1972.blogspot.co.uk

Nói đến Formosa và Hà Tĩnh, người ta chỉ nhắc đến một cái tên. Đó là Võ Kim Cự, bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Tất cả mũi chỉ trích của dư luận đều nhằm vào Võ Kim Cự, nhưng dường như Cự có một lá chắn màu nhiệm, cả một luồng dư luận sôi sục đòi xét tội Cự đều không đi đến đâu. Và cùng với Cự, Formosa vẫn bình chân như vại sau khi gấy ra thảm hoạ môi trường chấn động nhất trong lịch sử Việt Nam.

Năm 2008  Formosa vào Hà Tĩnh, Cự là trưởng ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng, phó chủ tịch tỉnh. Khi sự việc Formosa bùng nổ, mọi quy kết đều dồn cả vào Cự liệu có đầy đủ hay chưa.? Lúc đó cấp trên của Cự là ai, hiện giờ ông ta ở đâu mà không ai nhắc đến.

Cấp trên của Cự lúc đó là Nguyễn Thanh Bình, bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh kiêm chủ tịch hội đồng nhân dân Hà Tĩnh từ năm 2007 đến năm 2015. Suốt quá trình Formosa vào Hà Tĩnh là quãng thời gian dài gần trọn hai nhiệm kỳ, Nguyễn Thanh Bình là quan chức lớn nhất ở địa phương này. Việc lên án Cự mà không nhắc đến Bình là một điều khó hiểu. Dường như cả dư luận đều bị bịt mắt hay bị đánh lạc hướng khiến vị quan chức này được yên thân.
nguyen-thanh-binh-ha-tinh-su-quan

Nguyễn Thanh Bình, ông vua thực sự của Hà Tĩnh suốt hơn mười năm qua và còn ảnh hưởng thực sự đến tận bây giờ. Sau khi tạo thuận lợi để Formosa vào Hà Tĩnh, ảnh hưởng của Bình lớn đến nỗi ở nhiệm kỳ thứ hai, Bình là người đầu tiên trong cả nước được địa phương bầu trực tiếp làm lại bí thư Hà Tĩnh vào chiều ngày 9/9/2010. Ngay tối hôm 9/9 Bình mở ngay phiên họp đầu tiên của ban thường vụ tỉnh uỷ và tiếp tục cất nhắc Cự làm phó bí thư tỉnh uỷ.

Đến năm 2015 Bình được Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Tổ Chức Trung Ương đưa ra Hà Nội làm phó ban tổ chức trung ương đảng. Cuộc điều động luân chuyển cán bộ lần này hoàn toàn nằm dưới sự điều khiển của Nguyễn Phú Trọng . Bởi thế trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa chỉ về Hà Tĩnh đọc lệnh cất nhắc Bình và chấp nhận lời đề nghị của Bình cho Cự làm bí thư Hà Tĩnh.

Việc Nguyễn Thanh Bình trước kia được đại hội địa phương bầu trực tiếp làm bí thư đã hiếm, nhưng chuyện khi Bình đi rồi , để lại lời đề nghị người tiếp nối mình mà được phê chuẩn càng hiếm hơn. Qua đó cho thấy quyền lực của Bình ở địa phương là tuyệt đối.

Bình ra Hà Nội làm phó ban thường trực đầy quyền lực trong đảng, tương lai  vài năm tới sẽ thay thế Phạm Minh Chính ở chức này  và vào Bộ Chính Trị. Một nhân vật liên can nhiều nhất đến Formosa như Bình đang ở vị thế quan trọng và tương lại còn quan trọng hơn như thế, bảo sao vụ Formosa không có ai nhắc đến tên Bình, bảo sao Formosa và Võ Kim Cự như có tấm lá chắn thép che đỡ.

Tại biểu công bố quyết định đưa Bình ra Hà Nội  lên chức mới  đầy quan trọng là phó trưởng ban thường trực ban tổ chức trung ưởng đảng và Võ Kim Cự nhận chức bí thư Hà Tĩnh. Thay mặt bộ chính trị, Tô Huy Rứa phát biểu ca ngợi thành tích của hai con người này đã, có công đưa Hà Tĩnh thu được những thành tựu nổi bật.

Thành tựu đó là gì, ngoài sự phát triển nổi bật của Formosa trong thời kỳ Bình, Cự lãnh đạo Hà Tĩnh.

Từ khi tái đắc cử Tổng Bí Thư, Nguyễn Phú Trọng luôn mồm nhấn mạnh công tác tổ chức cán bộ, tiêu chí chọn cán bộ, đạo đức, năng lực cán bộ đảng…  cán bộ trong sạch, không có tư lợi riêng cho gia đình, người thân, bè phái, lợi ích nhóm.

Thế nhưng chuyện cả họ làm quan lại nhiều nhan nhản hơn khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Và ngay cả ngay sát cạnh ông Trọng , chẳng cần đâu xa. Nguyễn Thanh Bình chính là loại cán bộ điển hình lợi ích nhóm, phe phái, cục bộ địa phương. Sỡ dĩ không làm được gì Võ Kim Cự vì Cự là người Bình đưa lên. Xử lý Cự phải xử lý cả Bình, xử lý Bình thì phải xử lý cả người đã đưa Bình ra Hà Nội làm phó ban tổ chức trung ương.  Có nghĩa Trọng phải tự xử lý mình. Công tác cán bộ điều động, luân chuyển có vấn đề tiêu cực ở quá gần Nguyễn Phú Trọng, ông ta không xử lý còn đi xử lý tận đâu đâu.

Vào giữa năm 2016 ở Hà Tĩnh nổi lên vụ cảnh sát đánh người yêu cũ và chồng sắp cưới của cô gái tàn bạo, có tổ chức, tính chất tàn bạo, công khai giữa ban ngày, coi thương pháp luật. Thế nhưng vụ việc bỗng nhiên êm ả , vì nạn nhân làm đơn xin bãi miễn hành vi của viên cảnh sát trẻ này.

Viên cảnh sát đó tên là Phan Văn Hưng, người huyện Cẩm Xuyên, cùng quê với Nguyễn Thanh Bình. Hưng là con của bà Nguyễn Thị Bảo Ngọc  phó chủ tịch huyện Cẩm Xuyên.  Bà Nguyễn Thị Bảo Ngọc là anh em con chú, con bác với Nguyễn Thanh Bình. Chỉ từ một cán bộ văn hoá xã đi phát báo nhờ ông anh Bình mà thành phó chủ tịch huyện và còn cơ hội đi tiếp cao nữa.

Ở Hà Tĩnh không chỉ mỗi mình bà Ngọc có quan hệ họ hàng với Nguyễn Thanh Bình. Có thể liệt kê nhiều chức vụ, tên tuổi khác như

Nguyễn Văn An, em ruột Bình là phó giám đốc công an tỉnh.
Trần Văn Sơn, em rể Bình làm chỉ huy quân sự tỉnh.
Nguyễn Văn Thắng, em họ  Bình làm  chánh án toà án tỉnh
Nguyễn Quốc Hùng, con rể làm trưởng công an thành phố Hà Tĩnh.
Nguyễn Văn Quý, em họ làm chủ tịch hội đồng nhân dân Hà Tĩnh.

Nguyễn Quốc Hùng hàm còn đại uý đã nhận chức trưởng công an thành phố, trong khi còn bao nhiêu phó trưởng khác hàm trung tá phải ngậm ngùi , cay đắng đứng nhìn ông con rể ngài phó ban tổ chức trung ương đảng leo qua đầu.

Còn nhiều chức vụ quan trọng cấp huyện, cấp sở ở Hà Tĩnh  do họ hàng, thông gia nhà Nguyễn Văn Bình nắm giữ như Nguyễn Văn Cương, Dương Văn Tuấn, Dương Thạch….những tên tuổi này đã từng dính dáng đến những vụ việc um xùm dư luận như đội cảnh sát giao thông huyện Kỳ Anh lông hành cho mình có quyền riêng thu luật, vụ phá sản doanh nghiệp 666, vụ làm 2 km đường quốc lộ 1 A qua Hà Tĩnh…

Với một mạng nhện họ hàng dày đặc giăng ở Hà Tĩnh như thế, cộng với chức thường trực phó ban tổ chức trung ương đảng cao ngất trời. Nguyễn Thanh Bình thực sự là sứ quân đầy quyền lực ở Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Phú Trọng trả lời sao về công tác cán bộ của đảng mà ông đang hô hào là cải tiến chất lương , đạo đức, trong sáng, loại trừ bè phái, lợi ích nhóm. ?

Ông Trọng sẽ không trả lời, vì Nguyễn Thanh Bình là nhân sự quan trọng nằm trong bè phái của ông.

Bài viết này không hy vọng gì Nguyễn Phú Trọng làm sáng tỏ công tác cán bộ như miệng ông ta thường rao giảng. Bài viết chỉ muốn phần nào giải thích cho dư luận thấy, một khía cạnh đã làm cho Formosa tung hoành không hề e sợ pháp luật, văn hoá Việt Nam, Võ Kim Cự không rụng cọng lông chân, các đập thuỷ điện ở Hà Tĩnh vô tư xả nước gây lũ lụt, công an Hà Tĩnh tự tung, tự tác thu tiền xe trên đường quốc lộ.

Thật bi hài, trong khi người dân Hà Tĩnh khốn khổ trong lũ lụt và thảm hoạ Formosa, cả nước cùng quan tâm. Những người có lòng nhân hậu kêu gọi đóng góp, ủng hộ đồng bào Hà Tĩnh. Họ vì lòng tốt của mình mà bị chuốc mọi điều tiếng, đe doạ.

Thì họ hàng làm quan chức Hà Tĩnh  của phó ban tổ chức trung ương đảng Nguyễn Thanh Bình ở đâu, thưa ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng

Posted in Uncategorized | Để lại bình luận