Câu chuyện phá hoại tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm – Đà Lat

Áp phích xe lửa răng cưa Đà Lạt
Do địa hình phức tạp, người Pháp đã phải cần đến 25 năm để xây dựng tuyến đường sắt răng cưa đặc biệt từ Phan Rang lên đến Đà Lạt, tiêu tốn mất 200 triệu đồng Franc Pháp. Thế nhưng sau năm 1954, tuyến đường sắt răng cưa độc đáo này nhiều lần đã là mục tiêu tấn công của MTDTGP. Việt Cộng đã đặt mìn tự nổ khi tàu chạy ngang qua chừng tám lần. Qua phá hoại, một chiếc đầu tàu đã trật đường ray, trong một lần khác, mìn nổ đã tạo ra một hố to cho tới mức đầu tàu đã sụp vào trong hố đó và không chây được nữa.Năm 1967, một nhóm bốn người có vũ trang chận đoàn tàu chở hàng lại trên đoạn Da Tho (Le Bosquet) và Cầu Đất (Entrerays). Nhóm điều hành đầu tàu bốn người bị bắt mang vào khu rừng gần đó. Tại lần này, tổ lái tàu chỉ bị hỏi cung. Hai tuần sau đó, cũng chiếc đầu tàu đó và cũng cùng tổ lái tàu đó đã bị cũng nhóm bốn người đó chặn lại ở giữa tuyến Cà Bơ (K’Beu) và Ei Gió (Bellevue). Lần này tổ lái cũng phải rời khỏi đoàn tàu và phải cung cấp thông tin bằng cách nào có thể phá hủy đầu tàu một cách hiệu quả nhất. Ý tưởng đầu tiên của nhóm du kích là muốn cho nổ ở nơi đốt lò. Nhưng người lái tàu đã có thể giải thích cho họ hiểu rằng cho nổ lò hơi trong lúc không có thời gian kịp chạy ra đến một khoảng cách an toàn là một hành động tự sát. Người lái tàu đề nghị cho nổ những thùng dầu được gắn thêm trên tàu, nhưng lại đánh lừa bốn người du kích bằng cách chỉ vào một thùng đựng nước. Do vậy, sau vụ nổ và sau khi nhóm du kích đó rút đi, người lái tàu với máy liên lạc vô tuyến đã có thể gọi một đầu máy khác cộng với quân đội VNCH tháp tùng bảo vệ đi đến nơi mà mang chiếc đầu tàu hư hỏng nhẹ này về đến Đà Lạt.
Bản đồ đường sắt Đà Lạt - Sông Pha

Bản đồ đường sắt Đà Lạt – Sông Pha
Sau sáu tháng sửa chữa, một tổ lái khác đã lái đoàn tàu từ Đà Lạt về Sông Pha và lần này thì đầu máy 40-302 đã chạy trên một quả mìn có sức nổ mạnh cho tới mức lò hơi của đầu máy đã nổ tung. Ba thợ đốt lò Hữu, Bích và Ngọc bị phỏng nặng và chết ngay tại chỗ. Người lái tàu tên An bị sức nổ hất văng lên một cành cây. Ông thoát chết, “chỉ” bị gãy tay.Đầu tàu 40-302 bị phá hủy hoàn toàn, sau đó được kéo về Cầu Đất. Tuyến đường sắt răng cưa độc đáo ngưng hoạt động sau đó.

Đầu máy xe lửa răng cưa trên đường trở về lại Thụy Sĩ

Đầu máy xe lửa răng cưa trên đường trở về lại Thụy Sĩ
Sau năm 1975, trong lúc thiếu vật liệu để tái xây dựng đường sắt Thống Nhất, đường ray đặc biệt của tuyến đường sắt răng cưa cũng bị tháo dỡ nhằm lấy vật liệu mặc dù không phù hợp. Được chế tạo đặc biệt cho các yêu cầu cao của đường sắt leo núi, ngay từ bu lông đến đai ốc cũng đã khác với vật liệu thông thường rồi. Sau đó chúng bị trộm cắp và mang đi bán sắt vụn.

Đầu máy xe lửa sau khi được phục hồi

Đầu máy xe lửa sau khi được phục hồi
Rồi đến năm 1990, toàn bộ các đầu máy xe lửa răng cưa hay những gì còn sót lại từ chúng được bán phế liệu về cho Thụy Sĩ (là nước đã sản xuất ra các đầu máy này), chấm dứt mọi hy vọng mỏng manh tái thiết tuyến đường sắt vốn là một kỳ công kỹ thuật độc đáo của người Pháp để lại. Hai chiếc đầu tàu sau đó đã được người Thụy Sĩ phục hồi và bây giờ vẫn hoạt động đều đặn trên tuyến đường sắt răng cưa leo núi tại Thụy Sĩ (Furka-Bergstrecke).Tấn bi kịch về công trình kỹ thuật độc đáo của người Pháp ở Việt Nam này là điển hình cho sự phá hoại miền Nam vì ngu dốt và thiển cận!
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

“Láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã, thành phố rồi!”

Dương Thu Hương

17/May/2016

Đây là bài phát biều của Bà Dương Thu Hương, cựu Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN: “Láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã, thành phố rồi!”

Đây là nội dung phát biểu của bà Dương Thu Hương, cựu Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN, tại Hội thảo Góp ý văn kiện Đại hội 11. Do nội dung phát biểu này vẫn còn tính thời sự, nên mình đã nhờ một CTV đưa lên YouTube để chia sẻ cùng bà con.

Bà Dương Thu Hương đã phát biểu như sau: “Đi vào cụ thể thì tôi thấy rằng, thí dụ như trong cương lĩnh viết thì rất hay nhưng mà tôi nghĩ đưa rất nhiều cái khái niệm mà tôi chẳng hiểu được. Như cái khái niệm mà chúng ta vẫn cứ lúng ta lúng túng là ‘một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa’. Mà cũng báo cáo với các anh là riêng ngân hàng thì không biết ‘định hướng XHCN’, kinh tế thị trường có ‘định hướng XHCH’ trong hoạt động ngân hàng, nó là cái gì? Thì chúng tôi cũng khó có thể là cụ thể hóa ra được.

Ngoài ra lại còn ‘phát triển công nghiệp hiện đại, trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN’. Thế không biết ‘công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN’ là cái gì? Thế công nghiệp của XHCN nó khác với công nghiệp tư bản à? Thế thì tại sao lại cứ có cái đuôi ‘theo định hướng XHCN’? Thế rồi ‘xây dựng một nền dân chủ XHCN’. Thì đúng ra ngày xưa học về Mác – Lênin có cái câu là ‘dân chủ của CNXH thì dân chủ gấp trăm lần tư bản’.

Thế nhưng mà với cái thiển cận, tôi nghĩ dân chủ ở đâu cũng giống nhau thôi, là người dân được phép nói, đấy là dân chủ. Xã hội tạo điều kiện cho dân được nói, pháp luật tạo điều kiện cho dân được nói, thì đó là dân chủ, xã hội nào cũng thế. Lại còn cái dân chủ XHCN nữa! Cho nên từ công nghiệp hiện đại cũng theo định hướng XHCN, thì phát triển kinh tế thị trường cũng theo XHCN, rồi xây dựng nền dân chủ cũng theo XHCN thì tôi không hiểu nó là cái gì cả.

Trong cái cương lĩnh thì có một ý nữa, tức là vấn đề hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng thì trong đó có ghi là: Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Như vậy là tôi đọc cái này tôi thấy rằng, Đảng vẫn đặt dân tộc sau quyền lợi của giai cấp và của nhân dân lao động, đặt dân tộc thứ ba. Thì tôi thấy cái này rõ ràng là tại sao Đảng không vì quyền lợi của dân tộc là thiêng liêng trên hết, mà lại đặt quyền lợi của giai cấp lên trên hết?

Và tôi cũng đang muốn hỏi các anh, là hiện nay chúng ta còn giai cấp công nhân như ngày xưa không? Còn giai cấp vô sản như ngày xưa không? Hay là bây giờ tất cả các vị hữu sản hết rồi mà lại còn giàu có hơn cả những nhà tư bản mà nó phát triển hàng trăm năm nữa? Vậy tại sao chúng ta cứ phải có cái lý thuyết này? Cho nên tôi thấy điều này lợi ích của giai cấp đã được đặt đứng trên lợi ích dân tộc, thì tôi nghĩ rằng cương lĩnh thế thì không thể nào kêu gọi được đại đoàn kết dân tộc.

Thế rồi về văn hoá, xã hội, môi trường gì gì đấy v.v… Nhận định là ‘cuộc vận động đoàn kết toàn dân xây dựng đời sống văn hoá từng bước đi vào chiều sâu, môi trường và bảo vệ môi trường đã được nâng cao’, nhưng nó mâu thuẫn hoàn toàn với thực tế, là tệ nạn xã hội tăng, an toàn xã hội không đảm bảo, văn hoá thì tôi nói thật là chưa lúc nào văn hoá Việt Nam đồi truỵ đến như thế. Bật TV ra, phim Việt Nam ngay cả quảng cáo cũng là mầu sắc sexy rất là mạnh. Tôi không hiểu là, nó [chẳng] có một cái thuần phong mỹ tục gì cả mà tôi xem tôi phát ngượng. Rồi ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm v.v… Cho nên cái nhận xét này, đánh giá này với cái thực tế tôi nghĩ rằng nó không trúng một tí nào cả.

Thế rồi, nhận xét về dân chủ xã hội có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được nâng cao, dân chủ trong đảng được mở rộng. Tôi không biết dân chủ trong Đảng được mở rộng kiểu gì, nhưng mà tôi vẫn cảm nhận rằng là cái dân chủ trong đảng vẫn là mất dân chủ nhất so với Quốc hội. Và đấy, tôi nghĩ rằng mình là Đảng viên, mà mình cũng không được đi bầu Tổng bí thư của mình, chẳng được cái quyền gì cả ngoài cái quyền họp chi bộ hàng tháng để ngồi kể lể cho nhau nghe thôi. Cho nên tôi nghĩ rằng đánh giá như thế này vẫn không đúng với thực tế.

Thế rồi ‘xây dựng nhà nước pháp quyền, Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức’. Cái vấn đề này cũng là một đại sự. Tôi rất xấu hổ khi nói rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền gì đâu ạ mà bảo là cơ quan quyền lực cao nhất. Thế rồi ĐBQH và nếu ĐBQH là đảng viên thì lại không dám phát biểu cái gì theo chính kiến của mình mà lại phải giơ tay đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước. Cho nên nếu là một ĐBQH mà là vừa là đảng viên vừa là ĐBQH thì trong con người đó hoàn toàn mâu thuẫn, tức là không đảm bảo được quyền lợi của cử chi mà phải thực hiện vai trò đảng viên của mình và có thể lúc ấy là phải hy sinh cái quyền lợi của cử tri đi.

Cho nên là cái nhận định về xã hội pháp quyền và Quốc hội được tiếp tục hoàn thiện thì tôi cho rằng là, tất nhiên tuy có tiến bộ hơn nhưng mà nó vẫn đầy rẫy những cái gì đấy làm cho Quốc hội không thực quyền được, không thể thực quyền được. Và nhất là cái cơ cấu Quốc hội như hiện nay thì rõ ràng người ĐBQH là đảng viên, thì rõ ràng là người đó phải hy sinh quyền lợi của cử tri, chứ không phải là người đó bảo vệ quyền lợi của cử tri nữa.

….

Các anh thấy đại hội của những nhà chống tham nhũng mà được có lèo tèo vài người, có ai dám chống đâu, mà tham nhũng nghĩa là đầy ra. Là các anh cứ nói, tôi nói thật với các anh về kinh tế hai chữ ‘dự án’ nó thiêng liêng vô cùng, người ta cố gắng phải tìm ra được ‘dự án’, vì có dự án thì mới có tiền, có phần trăm. Cho nên cái đó là cái mà chúng ta cứ nói rằng thế nọ thế kia thì tôi nghĩ rằng nó cũng không thực tế, mà thấy cái tham nhũng và cái lãng phí của Việt Nam quá lớn. Rồi cũng nhận định là xử lý nghiêm những tổ chức, đảng viên sai phạm. Không đúng. Tôi nghĩ không đúng, không nghiêm. Tôi đặt câu hỏi là có thực sự nghiêm không hay là không muốn xử lý? Thì lúc nghỉ buổi trưa, tôi cũng có nói chuyện, tâm sự với các anh có những phi vụ cực lớn nhưng cuối cùng cũng im luôn. Nếu phi vụ đó ở Trung Quốc chắc bị bắn rồi. Nhưng ở Việt Nam bây giờ coi như chẳng có chuyện gì cả. Thế nhưng mà bây giờ vẫn cứ… Đã thế nó lại còn cứ thích lên DẠY CHO MỌI NGƯỜI VỀ ĐẠO ĐỨC, tôi rất khó chịu ở cái chuyện đó.

Về hạn chế trong báo cáo chính trị, thì tôi thấy rằng cái hạn chế mà chúng ta thấy rất rõ nhất mà trong này không đề cập đến, đó là cái khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng giãn rộng ra, ngày càng trầm trọng, chứ không phải là cái đó được thu hẹp lại. Cho nên, không phải là chênh lệch giữa các vùng các miền còn lớn đâu, mà trong này không hề nói tới khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Và bây giờ hình thành nên những nhà gọi là tư sản nhưng mà cộng sản, những nhà tư sản cộng sản: Tư sản đỏ. Còn dân nghèo thì, tôi cũng được vinh dự vào mấy năm Quốc hội được tiếp cận với nông dân, tôi thấy họ quá khổ luôn, họ quá bị áp bức bóc lột luôn. Hơi một tí bị tù, hơi một tí thì bị thế nọ thế kia và đất đai bị cướp đoạt luôn và cướp xong thì…

Ba mươi Tết tôi nhớ, có một ông thương binh gọi điện đến cho tôi là đến giờ này họ còn đuổi tôi ra khỏi nhà để họ giải phóng mặt bằng. Tôi phải gọi điện lên cho đồng chí bí thư dưới tỉnh mà tôi làm đại biểu: ‘Anh ơi, có gì đấy anh để qua tết đi. Anh đừng làm như thế này, đến Tết, mà người ta thương binh, người ta ăn Tết ở đâu?’ Thì như vậy, ông ta không nói gì cả, nhưng mà sáng hôm sau cái anh thương binh gọi điện cho tôi: ‘Chị Hương ơi, NÓ TRÓI TÔI NHƯ MỘT CON CHÓ, NÓ ĐÃ QUẢNG RA GIỮA ĐƯỜNG, và đất đai của tôi nó đã tịch thu’. Tôi nói thật, mà người ta thương binh chứ không phải là một dân thường, cái điều đó tôi rất là đau. Và tôi cảm nhận rằng cái bao nhiêu năm, bao nhiêu người hy sinh chiến đấu để được cái ngày hôm nay nhưng mà bây giờ người ta cư xử với những người cống hiến cho xã hội, cho nền độc lập của đất nước này như thế. Tôi đau vô cùng nhưng tôi không làm cái gì được. Mà Tết nhất đến nơi rồi mà còn làm như vậy. Cho nên tôi thấy cái này là cái mà trong cái hạn chế này không nói hết được những cái đó.

Về an ninh quốc phòng thì sáng nay các anh cũng ít nói đến nhưng quả thật tôi đang rất là lo sợ về cái việc này. Vì cũng dính dáng đến Quốc hội, cho nên tôi cũng thấy rằng những vấn đề về bauxite Tây Nguyên, vấn đề về cho thuê rừng, vấn đề về lao động nước ngoài không được giải quyết triệt để. Tất cả những vấn đề kinh tế này nó dẫn đến, nó dính đến vấn đề an ninh quốc phòng mà hiện tại không được giải quyết dứt điểm. Không rõ ràng, không dứt khoát, còn chần chừ và e ngại.

Thôi bauxite thì các anh cũng biết rồi không nói nữa. Nhưng rừng, cho thuê rừng: Xin báo cáo các anh là các đoàn ĐBQH ở những địa phương mà có rừng cho thuê người ta nói rằng sau khi cho thuê nó rào hết tất cả lại, nội bất xuất, ngoại bất nhập, không biết bên trong nó làm cái gì. Mà cho thuê tối thiểu là 50 năm. Mà tôi rất buồn là một đồng chí Phó chủ tịch tỉnh một tỉnh cho thuê rừng này lại tuyên bố rằng: ‘50 năm sau có người thực hiện, sẽ có người kiểm soát giám sát’. Sao mà ngây thơ thế!

Thế rồi lao động nước ngoài, thưa anh rằng nước ngoài láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã thành phố rồi, mà nó không mang tên China Town đâu, chưa mang tên thôi nhưng mà nó sẽ mang tên. Rồi Quốc hội hỏi thì Bộ trưởng Lao động Thương binh Xã hội chần chừ, không dám nói. Giả sử nhà tôi có phúc tôi được ở vị trí đó thì tôi sẽ trả lời Quốc hội một câu rằng: “Tôi sẽ về kiểm soát, kiểm tra và nếu mà không đúng theo pháp luật Việt Nam tôi sẽ trục xuất ngay”. Nhưng mà không dám nói câu đó mà lại phát biểu trước Quốc hội rằng “khó lắm, tế nhị lắm”. Thế thì thôi, đặt họ vào, họ chiếm đất của mình hết rồi.

Và các anh cứ đi từ Bắc Ninh lên Lạng Sơn xem, tất cả các dự án, những chỗ nào đất đai màu mỡ nhất là ở đấy các dự án của đồng chí bạn lớn của chúng ta hết. Mà người ta đã mang dự án sang, người ta mang công nhân sang, công nhân Trung Quốc sang, lấy vợ Việt Nam cắm đất đây luôn, sát ngay Hà Nội luôn. Tôi lo cái chuyện này vô cùng tận, nhưng mà không biết rằng trong báo cáo, trong cương lĩnh chính trị cũng như trong báo cáo chính trị, tôi thấy cái vấn đề này quá mờ nhạt luôn, quốc phòng an ninh chép đúng như những ngày xưa viết. Cái đó là cái rất đáng lo ngại.

Tôi có đọc cái quyển sách … của Thông tấn xã Việt Nam, họ nói trong cái quyển sách đó nó nói rằng tại sao Liên Xô sụp đổ? Liên Xô sụp đổ chẳng phải vì diễn biến hoà bình từ bên ngoài, mà Liên Xô sụp đổ từ lòng tin của người dân Liên Xô tan rã. Vậy thì Việt Nam chúng ta đang trên con đường đó, nhưng chúng ta vẫn rất chủ quan. Vẫn vẽ cho chúng ta một cái màu hồng vô cùng lớn, vô cùng đẹp, để [không] thấy rằng cái lòng tin với Đảng, với chính quyền này rất là sa sút rồi. Mà cái điều đó rất là nguy hiểm, nhưng mà trong này đánh giá rất là nhẹ nhàng.

Về nguyên nhân thì quả thật đánh giá cũng rất sơ sài, rất sơ sài, đổ cho khách quan, đổ cho khủng hoảng, đổ cho suy thoái, đổ cho thiên tai dịch bệnh, đổ cho yếu kém vốn có của nền kinh tế. Tôi hỏi rằng nền kinh tế nó có tội tình gì mà tự nhiên nó yếu kém? Có phải cái yếu kém đó tự nó phát sinh ra không hay là do cơ chế chính sách của mình tạo ra để cho nó yếu kém?

Ngày xửa ngày xưa còn bảo đất nước lạc hậu bao năm gì gì đấy, nhưng bây giờ 35 năm rồi, 40 năm rồi làm sao còn cái chuyện đất nước nông nghiệp lạc hậu, yếu kém nữa. Nó là do chúng ta, do cơ chế chính sách chúng ta làm cho cái nền kinh tế này yếu kém. Chứ đừng nói nó vốn có, cái vốn có này nó xa xưa lắm rồi. Cho nên cái nhận định này tôi cho là không đúng.

Thế rồi nhận định nữa là do ‘sự chống phá của các thế lực thù địch’. Tôi thấy chưa tìm đâu thấy cái chống phá bên ngoài, nhưng cái niềm tin của dân đã giảm, thì còn nguy hiểm hơn cả thế lực bên ngoài. Cái điều đó là cái mà tôi cho rằng cần phải đánh giá như thế, chứ còn ba cái thằng Việt kiều nó về lọ mọ vớ vẩn, không thèm chấp. Tất nhiên chúng ta vẫn cảnh giác nhưng chưa thấy ai chống phá chúng ta những cái gì mà gọi là để cho đất nước này đổ cả. Mà tôi chỉ sợ cái lòng dân này làm cho chúng ta sụp đổ. Nó như là một toà nhà mà bị mối, mặt bên ngoài toà nhà vẫn rất đẹp nhưng mà nó bị mối hết rồi”.

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

MỐI TÌNH MANELI-SỰ TIẾC NUỐI CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC VIỆT

https://drive.google.com/file/d/0B7vxHAQlq7jzbkxxZ3pUNUFaeS1PSzcxQnFBd0U1MFk1MnVj/view

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

QUYỀN LỰC VÀ THAM NHŨNG

QUYỀN LỰC VÀ THAM NHŨNG

tác giả MẠC VĂN TRANG
Nói chung chỉ người có quyền lực mới có thể tham nhũng. Quyền to có thể tham nhũng lớn, quyền bé thì tham nhũng lặt vặt. Không tham nhũng thì với chế độ tiền lương hiện hành, làm sao quan chức các cấp lại có nhà lầu, xe hơi, trang trại, tiền gửi ngân hàng, cho con du học, tiêu xài xa hoa…Đến nay việc kê khai tài sản vẫn không dám công khai…
Tham nhũng gắn liền với quyền lực. Từ anh dân phòng, bảo vệ, trưởng thôn cho đến cán bộ xã, huyện/quân, tỉnh/thành, bộ, ban, ngành, ở các địa phương đến trung ương, ai có tí quyền nào, đều tận dụng để “ăn”, tìm mọi cách để “ăn”. Ăn những gì?
– Trước hết là “ăn” từ công việc phục vụ dân, được biến thành “bắt chẹt” để “ăn”. Có lần một cán bộ xã bị nhà báo truy vấn về chuyện tại sao gây khó khăn cho dân về các thủ tục giấy tờ một cách quá quắt, anh này bực mình buột miêng: Không gây khó, lấy chó gì mà ăn! Dân ta đã tổng kết: thủ tục hành chính, tức là “hành là chính”! Thực ra từ hồi bao cấp cũng đã lan truyền câu: Làm nghề gì “ăn” nghề ấy. Ngày nay cái “ăn” này quá nhức nhối, đến nỗi CAND, Tòa án ND cũng “ăn” dân, thầy thuốc “ăn” cả bệnh nhân; thầy giáo “ăn” cả học trò…Bà Doan, Cựu Phó Chủ tịch nước đã kêu lên: Nó ăn của dân không chừa một cái gì!
– Lợi dụng chức quyền để ăn chia tài sản toàn dân. Lợi dung Hiến pháp quy định: Đất đai thuộc sở hưu toàn dân, do nhà nước quản lý, nên các cấp quản lý dễ dàng cưỡng chế, thu hồi đất của dân, đem cho thuê rừng 50 năm, thuê đất đến 70 năm; bán đất cho các dự án, bán khoáng sản cho khai thác, bán rừng cho lâm tặc… để ăn chia với nhau, làm thất thoát tài sản quốc gia nghiêm trọng, phá hoại môi trường vô tội vạ…
– Lợi dung các tập đoàn, đơn vị kinh tế nhà nước, được ưu tiên, ưu đâĩ để cài cắm phe nhóm vào, vay tiền nước ngoài đổ vào để bòn rút; phần lớn làm ăn lỗ thật, lãi giả. lỗ hàng mấy ngàn tỉ là thường! Mỗi khi giải thể, tách – nhập, cổ phần hóa… lại là dịp nhập nhèm “ăn chia” …
– Lợi dụng chức quyền, “chạy các dự án” xây dựng cầu đường, trụ sở, tượng đài… để bòn rút công quỹ, làm thì ẩu, giá thành thì cao, chất lượng kém…
– “Môt người làm quan cả họ được nhờ”. Do có quyền là có “ăn”, nên một người có quyền đều tìm cách đưa anh em, vợ con, họ hàng vào các vị trí bở béo. Báo chí đã nêu lên nhiều trường hợp “thái tử đảng” ở trung ương được “quy hoạch” vào các vị trí quan trọng. Từ đó bên dưới tỉnh, huyện, xã cũng “học tập, làm theo” rất triệt để. Gần đây báo chí nêu trường hợp bí thư tỉnh Hà Giang, quy hoạc 8 người thân vào các chức vụ của tỉnh. Ông ta nói “đều đúng quy trình cả”(?). Thực ra không chỉ Hà Giang, mà cùng thể chế như nhau, tỉnh/thành nào cũng na ná như nhau cả thôi. Tất nhiên có người khéo léo hơn, thì đổi – chác, gửi gắm anh em, con cháu cho chiến hữu ở phân tán nhiều nơi… Nhưng dù kiểu gì cũng không che mắt được nhân dân, cho báo chí điều tra công khai sẽ rõ hết. Đến nỗi ông Sang, Cựu Chủ tịch nước, khi còn đương chức đã kêu lên cái nạn “4 ệ”: Thứ nhất hậu duệ, thứ nhì tiền tệ, thứ ba quan hệ, thứ tư mới đến trí tuệ! Các mối quan hệ “thân hữu” này sẽ tạo nên “ma trận lợi ích nhóm” nhằng nhịt, thông đồng với nhau ăn chia, che chắn cho nhau chạy tội… Tất nhiên việc ăn chia cũng xảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân, phe nhóm nên mới có những vụ xử lý nhau, thậm chí bằng cả súng đạn như vụ Yên Bái tháng 8/2016.
– Nguy nhất là cái “thứ nhì tiền tệ”. Vì việc “mua quan, bán chức” hay “buôn vua”, “buôn quan” tạo ra một tầng lớp quan chức bất tài, vô liêm sỉ. Chỉ có kẻ bất tài, hám quyền, tham tiền, không biết xấu hổ mới bỏ tiền, thậm chí rất nhiều tiền để mua chức tước. Người có tài và có lòng tự trọng, sẽ không muối mặt mà đi chạy chọt, mua chức quyền. Họ đủ năng lực tìm ra công việc phù hợp để sống đàng hoàng… Kẻ vô liêm sỉ đã bỏ vốn ra mua chức quyền, thì vừa nắm quyền, nó chỉ chăm chăm kiếm tiền. Nhiệm kỳ lại chỉ có 3 năm hoặc 5 năm, khẩn trương lắm, làm sao chớp nhoáng kiếm cho hòa vốn, rồi có lãi càng nhiều càng tốt. Nếu còn tuổi, đến nhiệm kỳ sau, “tân quan, tân chính sách”, lại phải “chạy” sao cho luân chuyển vào đúng “quy hoạch”, sao cho các bước “đúng quy trình’ để tiếp tục giữ chức hoặc lên chức to hơn, chỗ “ngon” hơn… Nếu hết nhiệm kỳ này mà phải nghỉ, thì lo tính tận dụng hết “công suất| làm “chuyến tầu vét” sao cho thật “bẫm”. Vì thế mới có chuyện, ông Bộ trưởng trước khi nghỉ hưu, bổ nhiệm mấy chục chuyên viên lên chức; ông trưởng phòng giáo dục nhận hàng trăm giáo viên; ông hiệu trưởng nhận hàng chục giáo viên vào trường … rồi về hưu, mặc kệ anh sau giải quyết hậu quả!
– Người có chức quyền do những mối quan hệ xã hội ràng buộc nên khoản QUÀ BIẾU cũng “ăn” lớn; thực chất cũng là hối lộ, nhưng lại khó xác định tội tham nhũng. “Quà” ngày càng giá trị lớn, người dân thường khó tưởng tượng. Có quan còn “ăn” một cách bi, hài: “ăn” cưới con, “ăn” bố, mẹ chết, “ăn” tân gia, “ăn” mừng lên chức… Cho nên ta thấy có sếp khi bố, mẹ chết, đã gửi thông báo đóng dấu đỏ cho các cơ quan, đoàn thể địa phương; có sếp còn tổ chức “giỗ bố” 1 năm đến 3 – 4 lần (!). Đặc sắc Việt Nam, là những người có quyền chức cao, về hưu rồi vẫn “ăn mày dĩ vãng”, vẫn có thể tác động đến đàn em hay con cháu đương chức. Nhiều người như “Bố già’ trong một băng đảng…
Chức tước tạo ra những đặc quyền, đặc lợi như vậy, nên THAM NHŨNG QUYỀN LỰC là “ăn” lớn nhất và cũng nguy hiểm nhất. Nó lại khó kết tội vì người có quyền đặt ra quy trình rồi lại đạo diễn mọi việc theo đúng quy trình… Đã có tội phạm kinh tế, tội “lợi dụng chức quyền gây thiệt hại”… Nhưng chưa thấy xử tội “Tham nhũng quyền lực”?
Thời nào cũng vậy, khi hệ thống quan chức có “bộ phận không nhỏ” (tức là to) mà bất tài, vô liêm sỉ, chỉ toan tính lợi dụng chức quyền để kiếm lời, là biểu hiện suy vong của chính thể; dù có hô hào chính phủ liêm chính, chính phủ kiến tạo, chính phủ phục vụ dân… liệu có bao nhiêu phần trăm dân chúng tin tưởng vào hệ thống quan chức hiện nay?
19/9/2016
MVT

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

-Bài thơ “Đảng” của tướng Trần Độ

https://wp.me/p2gwQA-hty

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

NHỮNG BỨC TƯỢNG ĐỒNG PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ

Những Bức Tượng Ông Petrus Ký

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA MỘT ĐẠI TÁ CÔNG AN

Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn của Đại tá Công an

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Quyền lực và tham nhũng

Tác giả MẠC VĂN TRANG
Nói chung chỉ người có quyền lực mới có thể tham nhũng. Quyền to có thể tham nhũng lớn, quyền bé thì tham nhũng lặt vặt. Không tham nhũng thì với chế độ tiền lương hiện hành, làm sao quan chức các cấp lại có nhà lầu, xe hơi, trang trại, tiền gửi ngân hàng, cho con du học, tiêu xài xa hoa…Đến nay việc kê khai tài sản vẫn không dám công khai…
Tham nhũng gắn liền với quyền lực. Từ anh dân phòng, bảo vệ, trưởng thôn cho đến cán bộ xã, huyện/quân, tỉnh/thành, bộ, ban, ngành, ở các địa phương đến trung ương, ai có tí quyền nào, đều tận dụng để “ăn”, tìm mọi cách để “ăn”. Ăn những gì?
– Trước hết là “ăn” từ công việc phục vụ dân, được biến thành “bắt chẹt” để “ăn”. Có lần một cán bộ xã bị nhà báo truy vấn về chuyện tại sao gây khó khăn cho dân về các thủ tục giấy tờ một cách quá quắt, anh này bực mình buột miêng: Không gây khó, lấy chó gì mà ăn! Dân ta đã tổng kết: thủ tục hành chính, tức là “hành là chính”! Thực ra từ hồi bao cấp cũng đã lan truyền câu: Làm nghề gì “ăn” nghề ấy. Ngày nay cái “ăn” này quá nhức nhối, đến nỗi CAND, Tòa án ND cũng “ăn” dân, thầy thuốc “ăn” cả bệnh nhân; thầy giáo “ăn” cả học trò…Bà Doan, Cựu Phó Chủ tịch nước đã kêu lên: Nó ăn của dân không chừa một cái gì!
– Lợi dụng chức quyền để ăn chia tài sản toàn dân. Lợi dung Hiến pháp quy định: Đất đai thuộc sở hưu toàn dân, do nhà nước quản lý, nên các cấp quản lý dễ dàng cưỡng chế, thu hồi đất của dân, đem cho thuê rừng 50 năm, thuê đất đến 70 năm; bán đất cho các dự án, bán khoáng sản cho khai thác, bán rừng cho lâm tặc… để ăn chia với nhau, làm thất thoát tài sản quốc gia nghiêm trọng, phá hoại môi trường vô tội vạ…
– Lợi dung các tập đoàn, đơn vị kinh tế nhà nước, được ưu tiên, ưu đâĩ để cài cắm phe nhóm vào, vay tiền nước ngoài đổ vào để bòn rút; phần lớn làm ăn lỗ thật, lãi giả. lỗ hàng mấy ngàn tỉ là thường! Mỗi khi giải thể, tách – nhập, cổ phần hóa… lại là dịp nhập nhèm “ăn chia” …
– Lợi dụng chức quyền, “chạy các dự án” xây dựng cầu đường, trụ sở, tượng đài… để bòn rút công quỹ, làm thì ẩu, giá thành thì cao, chất lượng kém…
– “Môt người làm quan cả họ được nhờ”. Do có quyền là có “ăn”, nên một người có quyền đều tìm cách đưa anh em, vợ con, họ hàng vào các vị trí bở béo. Báo chí đã nêu lên nhiều trường hợp “thái tử đảng” ở trung ương được “quy hoạch” vào các vị trí quan trọng. Từ đó bên dưới tỉnh, huyện, xã cũng “học tập, làm theo” rất triệt để. Gần đây báo chí nêu trường hợp bí thư tỉnh Hà Giang, quy hoạc 8 người thân vào các chức vụ của tỉnh. Ông ta nói “đều đúng quy trình cả”(?). Thực ra không chỉ Hà Giang, mà cùng thể chế như nhau, tỉnh/thành nào cũng na ná như nhau cả thôi. Tất nhiên có người khéo léo hơn, thì đổi – chác, gửi gắm anh em, con cháu cho chiến hữu ở phân tán nhiều nơi… Nhưng dù kiểu gì cũng không che mắt được nhân dân, cho báo chí điều tra công khai sẽ rõ hết. Đến nỗi ông Sang, Cựu Chủ tịch nước, khi còn đương chức đã kêu lên cái nạn “4 ệ”: Thứ nhất hậu duệ, thứ nhì tiền tệ, thứ ba quan hệ, thứ tư mới đến trí tuệ! Các mối quan hệ “thân hữu” này sẽ tạo nên “ma trận lợi ích nhóm” nhằng nhịt, thông đồng với nhau ăn chia, che chắn cho nhau chạy tội… Tất nhiên việc ăn chia cũng xảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân, phe nhóm nên mới có những vụ xử lý nhau, thậm chí bằng cả súng đạn như vụ Yên Bái tháng 8/2016.
– Nguy nhất là cái “thứ nhì tiền tệ”. Vì việc “mua quan, bán chức” hay “buôn vua”, “buôn quan” tạo ra một tầng lớp quan chức bất tài, vô liêm sỉ. Chỉ có kẻ bất tài, hám quyền, tham tiền, không biết xấu hổ mới bỏ tiền, thậm chí rất nhiều tiền để mua chức tước. Người có tài và có lòng tự trọng, sẽ không muối mặt mà đi chạy chọt, mua chức quyền. Họ đủ năng lực tìm ra công việc phù hợp để sống đàng hoàng… Kẻ vô liêm sỉ đã bỏ vốn ra mua chức quyền, thì vừa nắm quyền, nó chỉ chăm chăm kiếm tiền. Nhiệm kỳ lại chỉ có 3 năm hoặc 5 năm, khẩn trương lắm, làm sao chớp nhoáng kiếm cho hòa vốn, rồi có lãi càng nhiều càng tốt. Nếu còn tuổi, đến nhiệm kỳ sau, “tân quan, tân chính sách”, lại phải “chạy” sao cho luân chuyển vào đúng “quy hoạch”, sao cho các bước “đúng quy trình’ để tiếp tục giữ chức hoặc lên chức to hơn, chỗ “ngon” hơn… Nếu hết nhiệm kỳ này mà phải nghỉ, thì lo tính tận dụng hết “công suất| làm “chuyến tầu vét” sao cho thật “bẫm”. Vì thế mới có chuyện, ông Bộ trưởng trước khi nghỉ hưu, bổ nhiệm mấy chục chuyên viên lên chức; ông trưởng phòng giáo dục nhận hàng trăm giáo viên; ông hiệu trưởng nhận hàng chục giáo viên vào trường … rồi về hưu, mặc kệ anh sau giải quyết hậu quả!
– Người có chức quyền do những mối quan hệ xã hội ràng buộc nên khoản QUÀ BIẾU cũng “ăn” lớn; thực chất cũng là hối lộ, nhưng lại khó xác định tội tham nhũng. “Quà” ngày càng giá trị lớn, người dân thường khó tưởng tượng. Có quan còn “ăn” một cách bi, hài: “ăn” cưới con, “ăn” bố, mẹ chết, “ăn” tân gia, “ăn” mừng lên chức… Cho nên ta thấy có sếp khi bố, mẹ chết, đã gửi thông báo đóng dấu đỏ cho các cơ quan, đoàn thể địa phương; có sếp còn tổ chức “giỗ bố” 1 năm đến 3 – 4 lần (!). Đặc sắc Việt Nam, là những người có quyền chức cao, về hưu rồi vẫn “ăn mày dĩ vãng”, vẫn có thể tác động đến đàn em hay con cháu đương chức. Nhiều người như “Bố già’ trong một băng đảng…
Chức tước tạo ra những đặc quyền, đặc lợi như vậy, nên THAM NHŨNG QUYỀN LỰC là “ăn” lớn nhất và cũng nguy hiểm nhất. Nó lại khó kết tội vì người có quyền đặt ra quy trình rồi lại đạo diễn mọi việc theo đúng quy trình… Đã có tội phạm kinh tế, tội “lợi dụng chức quyền gây thiệt hại”… Nhưng chưa thấy xử tội “Tham nhũng quyền lực”?
Thời nào cũng vậy, khi hệ thống quan chức có “bộ phận không nhỏ” (tức là to) mà bất tài, vô liêm sỉ, chỉ toan tính lợi dụng chức quyền để kiếm lời, là biểu hiện suy vong của chính thể; dù có hô hào chính phủ liêm chính, chính phủ kiến tạo, chính phủ phục vụ dân… liệu có bao nhiêu phần trăm dân chúng tin tưởng vào hệ thống quan chức hiện nay?
19/9/2016
MVT

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Cộng hoà Miền Nam Việt Nam: Quốc gia 15 tháng

Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Cách đây hơn 40 năm, có một quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong chưa đầy 15 tháng và ít được sử sách sau này nhắc tới.

13:30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (VNCH), Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng “quân giải phóng miền Nam Việt Nam” và kêu gọi binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí.

Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong tuyên bố đầu hàng này chính là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Mặt trận). Tên tiếng Anh của lực lượng này là National Liberation Front, thường được gọi tắt là NFL trong các văn bản quốc tế.

Mặt trận còn được xem là lực lượng nòng cốt của một chính thể thứ ba tại Việt Nam trong chiến tranh, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM).

Trong khi quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và VNCH trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thì vai trò cũng như sự nhìn nhận quốc tế đối với chính thể thứ 3 trong giai đoạn này phức tạp hơn.

Ngoài ra, đối với người Việt Nam, thì cả Mặt trận lẫn CPCM hầu như đều bị cả hai phe Quốc gia và Cộng sản xem như là một phần của quân đội và nhà nước Bắc Việt trong và sau cuộc chiến.

Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Mặt trận và CPCM trong lịch sử Việt Nam đã giúp khẳng định rõ hơn việc lãnh thổ Việt Nam đã từng hiện diện hai quốc gia trong vòng trên dưới 22 năm, từ 7/1954 – 7/1976.

Cánh tay nối dài của miền Bắc

Sau khi Hiệp định Geneva 1954 tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, quyền quản lý miền Nam Việt Nam được thế giới công nhận thuộc về thể chế VNCH.

Mặt trận được thành lập ngày 20/12/1960. Họ tự tuyên bố là một liên minh chính trị của những người đối lập với chính quyền VNCH tại miền Nam Việt Nam, bao gồm những người Cộng sản tại miền Nam (chiếm đa số) và những người thuộc các đảng phái chính trị khác. Ngoài ra, Mặt trận còn kêu gọi tất cả những ai có tư tưởng chống Mỹ tham gia.

Mục tiêu của Mặt trận là lật đổ chế độ VNCH, không chấp nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành thống nhất hai miền Nam-Bắc. Đối với quốc tế, Mặt trận luôn luôn đề cao tính trung lập của mình đối với cả VNCH lẫn VNDCCH trong vai trò hòa giải và thống nhất quốc gia.

Mặc dù vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, các văn kiện của đảng Lao động (tức đảng Cộng sản) Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 cho thấy sự chỉ đạo toàn diện của đảng Cộng sản đối với Mặt trận. Bà Nguyễn Thị Bình, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của CPCM, được kết nạp vào đảng Cộng sản năm 1948, từng ra Bắc làm việc sau năm 1954 và được phái trở lại miền Nam năm 1962, sau này làm tới chức Phó Chủ tịch nước của Việt Nam thống nhất.

Đến 8/6/1969, Mặt trận cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tiến hành thành lập chính phủ riêng, lấy tên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, và công khai đối lập với chế độ VNCH.

Cần phải nói thêm, do cần thu hút những thành phần bất đồng chính kiến và các tổ chức chính trị phi cộng sản tại miền Nam tham gia vào Mặt trận mà Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã được thành lập. Lực lượng quần chúng này bao gồm rất nhiều thành phần trong xã hội, ví dụ như sinh viên, học sinh, trí thức, nhà văn, nhà báo, lãnh đạo các tôn giáo, v.v.

Qua đó, Mặt trận đã mở rộng cả mục tiêu hoạt động của mình lẫn thành phần tham gia, và điều này đã giúp cho họ thoát khỏi những cáo buộc là tổ chức vũ trang của đảng Cộng sản, cũng như tái khẳng định tính trung lập và vị thế của một liên minh chính trị đối lập với chính phủ VNCH tại miền Nam.

Tìm kiếm sự công nhận và tính chính danh đối với cộng đồng quốc tế

Sau khi thành lập chính phủ lâm thời vào năm 1969, Mặt trận và CPCM tăng cường vận động quốc tế để khẳng định tính chính danh của mình. Vào thời điểm tháng 11/1969, CPCM đã được 28 nước công nhận. Nhưng đa số các nước đó thuộc về khối cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Trong giai đoạn 1969-1975, CPCM luôn luôn công nhận sự độc lập và tự chủ về lãnh thổ quốc gia tại miền Nam Việt Nam, ngay cả đối với VNDCCH.

Khi tham gia vào hòa đàm Paris và tuy là một trong 4 bên của Hiệp định Paris 1973, nhưng CPCM chỉ được công nhận là một trong hai phe của miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973 công nhận có hai chính quyền (two governments) song song tồn tại và đối lập với nhau tại miền Nam Việt Nam: chính quyền Sài Gòn của VNCH và CPCM.

Cả hai chính quyền đều có cơ quan hành chính và quân đội riêng, kiểm soát các phần lãnh thổ khác nhau tại miền Nam. Cả hai đều có các nghĩa vụ quốc tế riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là chỉ có hai quốc gia (two states), Bắc Việt và Nam Việt.

Quan điểm chung của thế giới vào thời điểm ấy có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau đây của Bộ Ngoại giao Úc năm 1974:

“Khi Việt Nam được chia đôi vào năm 1954, hai quốc gia đã được thành lập và hai nhà nước được hình thành. Nhà nước Úc đã công nhận từ rất lâu việc hiện hữu của hai quốc gia và vẫn đang có mối quan hệ với cả hai nhà nước, nhà nước VNDCCH ở miền Bắc Việt Nam và nhà nước VNCH ở miền Nam Việt Nam. Cả hai nhà nước là thành viên của Hiệp định Paris (1973) cùng với CPCM. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước Úc ủng hộ việc công nhận một quốc gia thứ ba với nhà nước riêng (tức là CPCM).”

Vì vậy, CHMNVN đã bị từ chối khi họ nộp đơn xin tham gia vào các hiệp nghị của Công ước Geneva 1949 tháng 12/1973 do gặp sự phản đối từ một số nước không công nhận tư cách “quốc gia” của họ.

Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế của CPCM vẫn được tiếp tục. Bộ Ngoại giao của CPCM đã thành lập phái đoàn thường trực với trụ sở tại Paris, Pháp.

Tài liệu lưu trữ của Liên Hiệp Quốc cho thấy vào tháng 1/1975, chính phái đoàn thường trực này đã gửi thư lên LHQ và lên án chính quyền VNCH vi phạm Hiệp định Paris 1973. Họ cũng tái khẳng định nỗ lực của CPCM trong việc giải quyết những xung đột nội bộ (internal affairs) của miền Nam Việt Nam với chính quyền Sài Gòn-VNCH bằng phương pháp hòa bình nhưng bất thành, cũng như lên án VNCH đã phá vỡ Hiệp định 1973 bằng vũ lực.

Quốc gia Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: riêng biệt và độc lập trong 15 tháng

Ngay khi VNCH thua trận vào ngày 30/4/1975, CPCM đã lập tức khẳng định tư cách quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước quốc tế bằng việc nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của mình.

Đơn cử một ví dụ là vào ngày 4/5/1975, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (Republic of South Vietnam) – là tên gọi chính thức tại LHQ – đã gửi thư đến LHQ và nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của CHMNVN, đồng thời tuyên bố tư cách thừa kế chính quyền VNCH tại LHQ và tại các tổ chức quốc tế, cũng như các định chế tài chính quốc tế.

Ngay tại Việt Nam, ngày 4/5/1975, báo Nhân Dân đã đăng thông báo về việc CPCM thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định để tiếp quản thành phố này.

Ngày 15/7/1975, ông Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch nước CHMNVN, đã gửi điện tín đến Tổng thư ký LHQ kèm theo đơn xin gia nhập LHQ. Cùng thời điểm đó, VNDCCH cũng nộp một đơn riêng xin gia nhập LHQ.

Rất rõ ràng là ngay sau ngày 30/4/1975, cả VNDCCH ở miền Bắc và CHMNVN ở miền Nam đã khẳng định một lần nữa trước quốc tế rằng họ là hai quốc gia độc lập.

Phản ứng quốc tế trước sự kiện 30/4/1975 cũng ủng hộ lập luận trên. Đó là hầu hết các quốc gia đều cho rằng CPCM đã thay thế  VNCH để quản lý quốc gia Nam Việt Nam, tức là một sự thay đổi chế độ (change of government) tại miền Nam.

Tính chính danh của hai quốc gia Nam-Bắc Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế trong giai đoạn 4/1975-7/1976 được thể hiện qua tuyên bố của chính phủ Úc vào tháng 10/1975:

“Việc thống nhất giữa Bắc và Nam Việt Nam hiện tại vẫn chưa xảy ra, và như thế vẫn có hai nhà nước tiếp tục vận hành riêng biệt với nhau. Sự hiện diện của hai nhà nước riêng biệt (tại Việt Nam) đã được ít nhất 75 quốc gia công nhận. Việc vận hành riêng biệt cũng như sự chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế đối với hai quốc gia này, VNDCCH và CHMNVN, được thể hiện rõ qua việc họ tham gia vào tổ chức WHO và WMO với tư cách là hai quốc gia thành viên khác nhau tại thời điểm này.”

Quốc gia CHMNVN chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 2/7/1976 khi họ hợp nhất với VNDCCH thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/05/cong-hoa-mien-nam-viet-nam-quoc-gia-15-thang/

 

Tài liệu tham khảo:

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

MỘT PHÚT CHỮA BỆNH HIỆU QUẢ

MỘT PHÚT CHỮA BỆNH HIỆU QUẢ

Tác giả:Trịnh Quang Khải
Trong thời gian qua, nhiều thông tin cho rằng cách con người sử dụng thuốc kháng sinh quá nhiều hoặc không đúng phương pháp và liều lượng đã dẫn đến hiện tượng bị nhờn thuốc hoặc hiệu quả trị bệnh không đạt mong muốn.

Song song với việc chữa bệnh bằng phương pháp Tây y, hiện nay có nhiều người quan tâm đến việc chữa bệnh bằng phương pháp Đông y, hay cụ thể hơn là cách chữa bệnh cổ truyền không dùng đến thuốc.

Sau đây là 13 bí quyết chữa bệnh kỳ diệu chỉ mất một phút mà không dùng đến thuốc được nhiều người Trung Quốc xem là kinh nghiệm nằm lòng cần chia sẻ cho bạn bè. Hướng dẫn cách chọn huyệt theo hình ảnh minh họa.

  1. Một phút ngừng ho:

Dùng đốt ngón tay cái ấn vào huyệt Giác tôn trên vành tai và day trong vòng 1 phút thì sẽ giảm ngay triệu chứng ho.

  1. Một phút ngừng hen:

Ấn mạnh vào hai bên huyệt thái dương trong vòng một phút sẽ giảm cơn hen đáng kể.
Nếu kết quả chưa được như mong muốn, tiếp tục bấm day huyệt ngư tế ở phần bàn tay vùng ngón cái, đồng thời ấn huyệt Thái uyên trong 1 phút sẽ giúp cắt cơn hen nhanh chóng.
Vị trí huyệt Thái dương (góc trên trái), huyệt Ngư tế (góc trên phải), huyệt Thái uyên (dưới)

3. Một phút làm hạ huyết áp:

Lấy một ngón tay ấn mạnh một chút vào huyệt Thái dương trong khi ngón tay khác vòng ra phía sau đầu trong vòng 1 phút, huyết áp sẽ giảm đáng kể.
Nếu không giảm xuống đến mức mong muốn, tiếp tục ấn nhẹ nhàng huyệt Bách hội theo chiều kim đồng hồ 36 vòng. Sử dụng phương pháp này cho người huyết áp quá cao (khoảng trên 200mmHg) để ngăn ngừa xuất hiện đứt mạch máu não ngoài ý muốn.

Huyệt Thái dương (vị trí gần mang tai) và huyệt Bách hội

4. Một phút làm giảm đau thắt ngực:

Ấn mạnh tay vào huyệt Trung xung (đầu ngón tay giữa) của tay trái trong một phút có thể làm giảm đau thắt ngực.

Vị trí huyệt Trung xung

  1. Một trong chữa bệnh tim đập nhanh hồi hộp, khó thở
    (còn gọi là chứng tâm hoang khí đoản):

Nhấn huyệt Lao cung hoặc huyệt Thần môn trong lòng bàn tay trái một phút có thể làm giảm sự hồi hộp và khó thở.

Vị trí huyệt Lao cung (trong lòng bàn tay) và huyệt Thần môn (cổ tay)

  1. Một phút chữa nấc:

Dùng đốt ngón tay cái ấn day vào huyệt Toản trúc trên đầu 2 lông mày trong vòng một phút sẽ giúp ngừng cơn nấc tức thì.

Vị trí huyệt Toản trúc

  1. Một phút nguôi ngoai cơn giận dữ :

Khi tức giận sinh khí nóng nảy, muốn làm nhẹ dịu cảm giác bực bội trong một phút, có thể mát-xa hoặc day bấm qua lại giữa huyệt Thái xung và huyệt Hành gian, giảm các chứng bệnh phát sinh liên quan do tức giận mà phát bệnh.

Vị trí huyệt Thái xung và huyệt Hành gian

  1. Một phút chữa bệnh mất ngủ:

Sử dụng gậy mát xa hoặc đồ vật tương tự (như đũa cả hoặc vật hình que) để gãi nhẹ hoặc xoa vào mặt ngoài thành đùi tại huyệt Phong thị sẽ tạo cảm giác buồn ngủ, giúp người bệnh nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Vị trí huyệt Phong thị (Ngoài thành đùi)

  1. Một phút chữa đau đầu:

nhấn mạnh một chút vào huyệt Bách hội, huyệt phong trì trong vòng một phút sẽ ngắt chứng đau đầu. Huyệt Phong trì là 1 điểm trên đầu còn huyệt Phong trì thì đều phải ấn cả hai huyệt song song cùng lúc.

Vị trí huyệt Bách hội (trên đầu) và vị trí huyệt Phong trì (sau gáy)

  1. Một phút chữa chứng chuột rút ở chân:

Ấn mạnh vào huyệt Thừa sơn ở sau bụng bắp chân cả hai bên cùng lúc sẽ ngưng chứng chuột rút bất ngờ. Đây là bí quyết nằm lòng cần ghi nhớ.
Vị trí huyệt Thừa sơn và cách bấm


  1. Một phút ngừng chảy máu cam
    :

Dùng cán mát xa hoặc vật dài giống chiếc đũa bất ngờ đập mạnh tay vào huyệt Dũng tuyền ở dưới lòng gan hai bàn chân sẽ cắt cơn chảy máu cam ngay tức thì.

Vị trí huyệt Dũng tuyền

  1. Một phút chữa đau răng:

Ấn mạnh vào huyệt Hợp cốc ở 2 bàn tay, huyệt Kiên tỉnh mỗi nơi 30 giây sẽ giảm triệu chứng đau răng.

Vị trí huyệt Hợp cốc (trái) và huyệt Kiên tỉnh (phải)

13.Một phút chữa chứng chuột rút ở chân:

Ấn mạnh vào huyệt Thừa sơn ở sau bụng bắp chân cả hai bên cùng lúc sẽ ngưng chứng chuột rút bất ngờ. Đây là bí quyết nằm lòng cần ghi nhớ.
Vị trí huyệt Thừa sơn và cách bấm
LƯU Ý:
Bấm huyệt chính xác, lực vừa phải, rèn luyện nhiều lần để sử dụng khi cần thiết.

Đây là bí quyết nằm lòng được nhiều người sử dụng trong trường hợp cần xử lý triệu chứng bệnh đơn giản không cần dùng thuốc hoặc dùng thuốc kém hiệu quả.

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Khi chính quyền ruồng bỏ công dân  

Ông Phạm Minh Hoàng. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Một ngày đầu tháng 6 này, ông Phạm Minh Hoàng, một nhà hoạt động dân chủ, đến cơ quan ngoại giao Pháp ở thành phố Hồ Chí Minh và gặp ông Tổng lãnh sự. Chuyện không có gì đặc biệt bởi ngoài quốc tịch Việt Nam, ông còn là công dân Pháp và đã đi lại với các cơ quan ngoại giao của Pháp ở Việt Nam nhiều lần. Ông hoàn toàn không chuẩn bị đón nhận tin dữ nào.

“Nghe ông Tổng lãnh sự thông báo tôi đã bị tước quốc tịch Việt Nam, tôi như chết lặng, choáng váng đầu óc”, ông Hoàng nói với tôi qua một cuộc gọi trên internet.

Trước đó hai tuần, ngày 17/5, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ký quyết định tước quốc tịch của ông mà không nói rõ lý do cũng như không thông báo cho ông biết.

Ông Hoàng nói “họ chỉ thông báo miệng cho phía Pháp rồi ông Tổng lãnh sự nói cho tôi biết”.

Quyết định tước quốc tịch này chỉ xuất hiện trên Công báo ngày 7/6, tức một tuần sau cuộc gặp của ông với lãnh sự quán Pháp. Bản thân ông Hoàng chỉ nhận được quyết định qua đường bưu điện vào ngày 10/6.

Đây là tai nạn pháp lý – chính trị lớn thứ hai mà ông từng phải đối mặt, sau 17 tháng trong tù vì tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79, Bộ luật Hình sự và chỉ được trả tự do vào tháng 1/2012.

Sinh năm 1955 tại Vũng Tàu, ông đi du học và sinh sống ở Pháp từ năm 1973. Trở về Việt Nam năm 2000, ông trở thành giảng viên Toán của Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam năm 2007.  Ông công khai là một đảng viên Việt Tân ở trong nước.

Về cơ bản, dù quyết định tước quốc tịch này rõ ràng là trái pháp luật như phân tích của cựu luật sư Lê Công Định, trong mắt chính quyền, ông là một người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và có nguy cơ bị trục xuất bất cứ lúc nào.

“Điều tôi lo lắng hơn cả là việc gia đình phải ly tán. Cả vợ và con tôi đều sống cùng tôi ở Sài Gòn. Tôi còn một anh trai là thương phế binh thương tật gần như 100%, phải có người chăm sóc. Mẹ vợ tôi năm nay cũng đã già yếu”, ông Hoàng nghẹn ngào nói.

Điều an ủi với ông là đứa con gái 13 tuổi của ông đang được học một trường của Pháp ở Việt Nam theo diện được cấp học bổng đến năm 18 tuổi. Ông không phải lo lắng gì nhiều về điều kiện vật chất và học hành của cô. Duy chỉ có việc chia cách cha con là khiến ông đau lòng.

“Giờ tôi không biết phải tính như thế nào. Tôi đã mời luật sư làm thủ tục khiếu nại, nhưng biết đâu họ ập vào nhà khiêng tôi đi thì tôi cũng chẳng làm gì được”, ông nói bằng một chất giọng không mấy lạc quan.

Chỉ bốn tiếng sau khi nói chuyện với tôi, điều ông lo sợ đã trở thành sự thật: một toán công an sắc phục lẫn thường phục lấy cớ vào nhà kiểm tra hộ khẩu và bắt ông đi, không quên để lại lời nhắn: ông sẽ bị trục xuất khỏi Việt Nam ngay ngày mai (24/6).

Nửa đêm ngày 24/6, ông bị trục xuất trên một chuyến bay của Vietnam Airlines và tới Paris nửa ngày sau đó.

Không phải người đầu tiên

Ông Phạm Minh Hoàng không phải là người đầu tiên bị nhà nước từ chối tư cách công dân của mình.

Ngày 27/5 vừa qua, ông Phan Châu Thành, một người định cư ở Ba Lan có song tịch Việt Nam và Ba Lan, bị nhân viên cửa khẩu Tân Sơn Nhất từ chối cho nhập cảnh. Việc ông Thành xuất trình hộ chiếu Việt Nam tại cửa khẩu không giúp ích được gì cho ông.

Ông bị giam giữ tại một phòng làm việc của an ninh cửa khẩu trong nhiều giờ đồng hồ. Nhân viên an ninh giải thích rằng ông bị cấm nhập cảnh vì lý do “an ninh”, mà bằng chứng là ông đã có nhiều bài viết trên các trang Dân Luận và Dân Làm Báo, những trang mạng độc lập và có xu hướng phê phán chính quyền. Điều này hoá ra chỉ là một sự trùng tên.

Tuy nhiên, khó có khả năng cơ quan an ninh nhầm lẫn, vì bản thân ông Phan Châu Thành là một doanh nhân tham gia rất tích cực trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Ba Lan, đồng thời là người thường xuyên lên tiếng về những mặt trái của xã hội Việt Nam, cũng như tài trợ cho nhiều tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.

Bảy tiếng sau đó, ông Thành bị ép lên một chuyến bay của Vietnam Airlines rời khỏi Việt Nam.

Trở về Ba Lan, ông khẳng định sẽ theo đuổi việc đấu tranh pháp lý cho quyền được trở về quê hương của ông, vốn đã ghi rõ trong cả Hiến pháp lẫn các công ước quốc tế về nhân quyền.

Nỗ lực này cũng không suôn sẻ chút nào. Khi ông tới Đại sứ quán Việt Nam đề nghị chứng thực giấy uỷ quyền cho luật sư Đặng Đình Mạnh ở Việt Nam thì bị nhân viên sứ quán từ chối xác nhận.

Trao đổi với Luật Khoa tạp chí, ông Thành cho biết: “Tôi chất vấn thì sau cùng họ nói là họ tiếp nhận hồ sơ nhưng không biết đến khi nào mới trả lời, trong khi việc của họ đơn thuần là xác nhận một chữ ký”.

Luật sư Đặng Đình Mạnh cũng chính là người được ông Phạm Minh Hoàng mời làm người đại diện trong việc khiếu nại quyết định tước quốc tịch của ông.

Bốn ngày trước khi ông Hoàng bị công an bắt tại nhà, luật sư Mạnh đến Bộ Tư pháp nộp đơn khiếu nại nhưng cũng bị từ chối với lý do “không có thẩm quyền”.

“Họ cũng chỉ nhận đơn của tôi, ghi vào sổ công tác của họ nhưng từ chối cấp giấy biên nhận cho tôi”, luật sư Mạnh cho biết.

Xói mòn quốc gia

Theo luật pháp quốc tế, một quốc gia được hình thành nên bởi bốn yếu tố: lãnh thổ, dân cư, chính quyền, và chủ quyền. Bốn yếu tố này có mối liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và từ đó hình thành nên một quốc gia.

Mối quan hệ giữa công dân và chính quyền, do đó, là một trong những mối quan hệ căn bản nhất của quốc gia. Bất cứ khi nào công dân khước từ thực hiện nghĩa vụ của mình với quốc gia (đóng thuế, tôn trọng trật tự công,…) thì khi đó quốc gia suy yếu.

Ở chiều ngược lại, bất cứ khi nào chính quyền từ chối cho công dân được thực hiện những quyền công dân của mình, khi đó quốc gia cũng suy yếu. Trong những quyền công dân đó, có quyền được cư trú trên lãnh thổ quốc gia của mình. Quốc gia là gì nếu không dựa trên căn bản là một nhóm người cùng cư trú trên một lãnh thổ?

Hành động đơn phương tước quốc tịch của ông Phạm Minh Hoàng mà không cho ông bất cứ cơ hội nào để kháng cáo chính là hành động cắt bỏ mối quan hệ công dân – chính quyền. Nói nôm na, chính quyền hiện nay đang có xấp xỉ 95 triệu sợi dây liên kết với 95 triệu công dân của mình, nay nó đã quyết định cắt đi một sợi.

Hành động khước từ cho ông Phan Châu Thành được nhập cảnh vào chính quốc gia mà ông là công dân cũng vậy. Chỉ có một lý do duy nhất mà một chính quyền có thể cấm ai đó nhập cảnh, đó là vì người đó là người nước ngoài. Nói cách khác, nếu bạn bị cấm trở về nhà mình thì có nghĩa rằng bạn không còn được coi là chủ nhà nữa. Thông điệp của chính quyền khá rõ ràng: họ đã không còn coi ông Thành là một trong 95 triệu người chủ của quốc gia Việt Nam. Hành động cấm nhập cảnh, trên thực tế, không khác việc bị tước quốc tịch là bao. Thêm một sợi dây liên kết giữa công dân và chính quyền bị cắt đứt.

Bạn có thể cho rằng chỉ cắt hai sợi trong số 95 triệu sợi dây đó thì đâu ảnh hưởng gì? Nhưng ảnh hưởng của hành động này không chỉ nằm ở hai sợi dây đứt, mà còn nằm ở cái thông điệp mà nó gửi cho tất cả các công dân còn lại: chính quyền sẵn sàng cắt thêm nhiều sợi dây nữa nếu nó cảm thấy không còn muốn coi ai đó là công dân.

Ít ai để ý, đúng ba năm trước ngày ông Phạm Minh Hoàng bị trục xuất, ngày 24/6/2014, chính quyền đã từng suýt cắt bỏ quốc tịch của hàng triệu công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo Luật Quốc tịch 2008, hàng triệu người này sẽ phải đăng ký giữ quốc tịch trước ngày 1/7/2014, nếu không họ sẽ mất quốc tịch. Tuy nhiên, chỉ một tuần trước khi hết thời hạn này, Quốc hội đã kịp bãi bỏ quy định nói trên.

Cũng không nên lạc quan là nếu bạn chỉ có quốc tịch Việt Nam thì chính quyền không dám trục xuất bạn. Chính quyền Trung Quốc từng quẳng một công dân của mình, một thủ lĩnh phong trào Thiên An Môn, qua biên giới với Hong Kong vào năm 1993. Người đó sau này trở thành một nhà hoạt động công đoàn nổi tiếng bậc nhất thế giới: Han Dongfang.

Nguồn :http://luatkhoa.org/2017/06/khi-chinh-quyen-ruong-bo-cong-dan/

——————==========================================

Ông Phạm Minh Hoàng đến Paris, sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này