Câu chuyện phá hoại tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm – Đà Lat

Áp phích xe lửa răng cưa Đà Lạt
Do địa hình phức tạp, người Pháp đã phải cần đến 25 năm để xây dựng tuyến đường sắt răng cưa đặc biệt từ Phan Rang lên đến Đà Lạt, tiêu tốn mất 200 triệu đồng Franc Pháp. Thế nhưng sau năm 1954, tuyến đường sắt răng cưa độc đáo này nhiều lần đã là mục tiêu tấn công của MTDTGP. Việt Cộng đã đặt mìn tự nổ khi tàu chạy ngang qua chừng tám lần. Qua phá hoại, một chiếc đầu tàu đã trật đường ray, trong một lần khác, mìn nổ đã tạo ra một hố to cho tới mức đầu tàu đã sụp vào trong hố đó và không chây được nữa.Năm 1967, một nhóm bốn người có vũ trang chận đoàn tàu chở hàng lại trên đoạn Da Tho (Le Bosquet) và Cầu Đất (Entrerays). Nhóm điều hành đầu tàu bốn người bị bắt mang vào khu rừng gần đó. Tại lần này, tổ lái tàu chỉ bị hỏi cung. Hai tuần sau đó, cũng chiếc đầu tàu đó và cũng cùng tổ lái tàu đó đã bị cũng nhóm bốn người đó chặn lại ở giữa tuyến Cà Bơ (K’Beu) và Ei Gió (Bellevue). Lần này tổ lái cũng phải rời khỏi đoàn tàu và phải cung cấp thông tin bằng cách nào có thể phá hủy đầu tàu một cách hiệu quả nhất. Ý tưởng đầu tiên của nhóm du kích là muốn cho nổ ở nơi đốt lò. Nhưng người lái tàu đã có thể giải thích cho họ hiểu rằng cho nổ lò hơi trong lúc không có thời gian kịp chạy ra đến một khoảng cách an toàn là một hành động tự sát. Người lái tàu đề nghị cho nổ những thùng dầu được gắn thêm trên tàu, nhưng lại đánh lừa bốn người du kích bằng cách chỉ vào một thùng đựng nước. Do vậy, sau vụ nổ và sau khi nhóm du kích đó rút đi, người lái tàu với máy liên lạc vô tuyến đã có thể gọi một đầu máy khác cộng với quân đội VNCH tháp tùng bảo vệ đi đến nơi mà mang chiếc đầu tàu hư hỏng nhẹ này về đến Đà Lạt.
Bản đồ đường sắt Đà Lạt - Sông Pha

Bản đồ đường sắt Đà Lạt – Sông Pha
Sau sáu tháng sửa chữa, một tổ lái khác đã lái đoàn tàu từ Đà Lạt về Sông Pha và lần này thì đầu máy 40-302 đã chạy trên một quả mìn có sức nổ mạnh cho tới mức lò hơi của đầu máy đã nổ tung. Ba thợ đốt lò Hữu, Bích và Ngọc bị phỏng nặng và chết ngay tại chỗ. Người lái tàu tên An bị sức nổ hất văng lên một cành cây. Ông thoát chết, “chỉ” bị gãy tay.Đầu tàu 40-302 bị phá hủy hoàn toàn, sau đó được kéo về Cầu Đất. Tuyến đường sắt răng cưa độc đáo ngưng hoạt động sau đó.

Đầu máy xe lửa răng cưa trên đường trở về lại Thụy Sĩ

Đầu máy xe lửa răng cưa trên đường trở về lại Thụy Sĩ
Sau năm 1975, trong lúc thiếu vật liệu để tái xây dựng đường sắt Thống Nhất, đường ray đặc biệt của tuyến đường sắt răng cưa cũng bị tháo dỡ nhằm lấy vật liệu mặc dù không phù hợp. Được chế tạo đặc biệt cho các yêu cầu cao của đường sắt leo núi, ngay từ bu lông đến đai ốc cũng đã khác với vật liệu thông thường rồi. Sau đó chúng bị trộm cắp và mang đi bán sắt vụn.

Đầu máy xe lửa sau khi được phục hồi

Đầu máy xe lửa sau khi được phục hồi
Rồi đến năm 1990, toàn bộ các đầu máy xe lửa răng cưa hay những gì còn sót lại từ chúng được bán phế liệu về cho Thụy Sĩ (là nước đã sản xuất ra các đầu máy này), chấm dứt mọi hy vọng mỏng manh tái thiết tuyến đường sắt vốn là một kỳ công kỹ thuật độc đáo của người Pháp để lại. Hai chiếc đầu tàu sau đó đã được người Thụy Sĩ phục hồi và bây giờ vẫn hoạt động đều đặn trên tuyến đường sắt răng cưa leo núi tại Thụy Sĩ (Furka-Bergstrecke).Tấn bi kịch về công trình kỹ thuật độc đáo của người Pháp ở Việt Nam này là điển hình cho sự phá hoại miền Nam vì ngu dốt và thiển cận!
Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cộng hoà Miền Nam Việt Nam: Quốc gia 15 tháng

Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Cách đây hơn 40 năm, có một quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong chưa đầy 15 tháng và ít được sử sách sau này nhắc tới.

13:30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (VNCH), Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng “quân giải phóng miền Nam Việt Nam” và kêu gọi binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí.

Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong tuyên bố đầu hàng này chính là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Mặt trận). Tên tiếng Anh của lực lượng này là National Liberation Front, thường được gọi tắt là NFL trong các văn bản quốc tế.

Mặt trận còn được xem là lực lượng nòng cốt của một chính thể thứ ba tại Việt Nam trong chiến tranh, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM).

Trong khi quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và VNCH trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thì vai trò cũng như sự nhìn nhận quốc tế đối với chính thể thứ 3 trong giai đoạn này phức tạp hơn.

Ngoài ra, đối với người Việt Nam, thì cả Mặt trận lẫn CPCM hầu như đều bị cả hai phe Quốc gia và Cộng sản xem như là một phần của quân đội và nhà nước Bắc Việt trong và sau cuộc chiến.

Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Mặt trận và CPCM trong lịch sử Việt Nam đã giúp khẳng định rõ hơn việc lãnh thổ Việt Nam đã từng hiện diện hai quốc gia trong vòng trên dưới 22 năm, từ 7/1954 – 7/1976.

Cánh tay nối dài của miền Bắc

Sau khi Hiệp định Geneva 1954 tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, quyền quản lý miền Nam Việt Nam được thế giới công nhận thuộc về thể chế VNCH.

Mặt trận được thành lập ngày 20/12/1960. Họ tự tuyên bố là một liên minh chính trị của những người đối lập với chính quyền VNCH tại miền Nam Việt Nam, bao gồm những người Cộng sản tại miền Nam (chiếm đa số) và những người thuộc các đảng phái chính trị khác. Ngoài ra, Mặt trận còn kêu gọi tất cả những ai có tư tưởng chống Mỹ tham gia.

Mục tiêu của Mặt trận là lật đổ chế độ VNCH, không chấp nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành thống nhất hai miền Nam-Bắc. Đối với quốc tế, Mặt trận luôn luôn đề cao tính trung lập của mình đối với cả VNCH lẫn VNDCCH trong vai trò hòa giải và thống nhất quốc gia.

Mặc dù vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, các văn kiện của đảng Lao động (tức đảng Cộng sản) Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 cho thấy sự chỉ đạo toàn diện của đảng Cộng sản đối với Mặt trận. Bà Nguyễn Thị Bình, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của CPCM, được kết nạp vào đảng Cộng sản năm 1948, từng ra Bắc làm việc sau năm 1954 và được phái trở lại miền Nam năm 1962, sau này làm tới chức Phó Chủ tịch nước của Việt Nam thống nhất.

Đến 8/6/1969, Mặt trận cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tiến hành thành lập chính phủ riêng, lấy tên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, và công khai đối lập với chế độ VNCH.

Cần phải nói thêm, do cần thu hút những thành phần bất đồng chính kiến và các tổ chức chính trị phi cộng sản tại miền Nam tham gia vào Mặt trận mà Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã được thành lập. Lực lượng quần chúng này bao gồm rất nhiều thành phần trong xã hội, ví dụ như sinh viên, học sinh, trí thức, nhà văn, nhà báo, lãnh đạo các tôn giáo, v.v.

Qua đó, Mặt trận đã mở rộng cả mục tiêu hoạt động của mình lẫn thành phần tham gia, và điều này đã giúp cho họ thoát khỏi những cáo buộc là tổ chức vũ trang của đảng Cộng sản, cũng như tái khẳng định tính trung lập và vị thế của một liên minh chính trị đối lập với chính phủ VNCH tại miền Nam.

Tìm kiếm sự công nhận và tính chính danh đối với cộng đồng quốc tế

Sau khi thành lập chính phủ lâm thời vào năm 1969, Mặt trận và CPCM tăng cường vận động quốc tế để khẳng định tính chính danh của mình. Vào thời điểm tháng 11/1969, CPCM đã được 28 nước công nhận. Nhưng đa số các nước đó thuộc về khối cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Trong giai đoạn 1969-1975, CPCM luôn luôn công nhận sự độc lập và tự chủ về lãnh thổ quốc gia tại miền Nam Việt Nam, ngay cả đối với VNDCCH.

Khi tham gia vào hòa đàm Paris và tuy là một trong 4 bên của Hiệp định Paris 1973, nhưng CPCM chỉ được công nhận là một trong hai phe của miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973 công nhận có hai chính quyền (two governments) song song tồn tại và đối lập với nhau tại miền Nam Việt Nam: chính quyền Sài Gòn của VNCH và CPCM.

Cả hai chính quyền đều có cơ quan hành chính và quân đội riêng, kiểm soát các phần lãnh thổ khác nhau tại miền Nam. Cả hai đều có các nghĩa vụ quốc tế riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là chỉ có hai quốc gia (two states), Bắc Việt và Nam Việt.

Quan điểm chung của thế giới vào thời điểm ấy có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau đây của Bộ Ngoại giao Úc năm 1974:

“Khi Việt Nam được chia đôi vào năm 1954, hai quốc gia đã được thành lập và hai nhà nước được hình thành. Nhà nước Úc đã công nhận từ rất lâu việc hiện hữu của hai quốc gia và vẫn đang có mối quan hệ với cả hai nhà nước, nhà nước VNDCCH ở miền Bắc Việt Nam và nhà nước VNCH ở miền Nam Việt Nam. Cả hai nhà nước là thành viên của Hiệp định Paris (1973) cùng với CPCM. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước Úc ủng hộ việc công nhận một quốc gia thứ ba với nhà nước riêng (tức là CPCM).”

Vì vậy, CHMNVN đã bị từ chối khi họ nộp đơn xin tham gia vào các hiệp nghị của Công ước Geneva 1949 tháng 12/1973 do gặp sự phản đối từ một số nước không công nhận tư cách “quốc gia” của họ.

Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế của CPCM vẫn được tiếp tục. Bộ Ngoại giao của CPCM đã thành lập phái đoàn thường trực với trụ sở tại Paris, Pháp.

Tài liệu lưu trữ của Liên Hiệp Quốc cho thấy vào tháng 1/1975, chính phái đoàn thường trực này đã gửi thư lên LHQ và lên án chính quyền VNCH vi phạm Hiệp định Paris 1973. Họ cũng tái khẳng định nỗ lực của CPCM trong việc giải quyết những xung đột nội bộ (internal affairs) của miền Nam Việt Nam với chính quyền Sài Gòn-VNCH bằng phương pháp hòa bình nhưng bất thành, cũng như lên án VNCH đã phá vỡ Hiệp định 1973 bằng vũ lực.

Quốc gia Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: riêng biệt và độc lập trong 15 tháng

Ngay khi VNCH thua trận vào ngày 30/4/1975, CPCM đã lập tức khẳng định tư cách quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước quốc tế bằng việc nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của mình.

Đơn cử một ví dụ là vào ngày 4/5/1975, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (Republic of South Vietnam) – là tên gọi chính thức tại LHQ – đã gửi thư đến LHQ và nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của CHMNVN, đồng thời tuyên bố tư cách thừa kế chính quyền VNCH tại LHQ và tại các tổ chức quốc tế, cũng như các định chế tài chính quốc tế.

Ngay tại Việt Nam, ngày 4/5/1975, báo Nhân Dân đã đăng thông báo về việc CPCM thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định để tiếp quản thành phố này.

Ngày 15/7/1975, ông Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch nước CHMNVN, đã gửi điện tín đến Tổng thư ký LHQ kèm theo đơn xin gia nhập LHQ. Cùng thời điểm đó, VNDCCH cũng nộp một đơn riêng xin gia nhập LHQ.

Rất rõ ràng là ngay sau ngày 30/4/1975, cả VNDCCH ở miền Bắc và CHMNVN ở miền Nam đã khẳng định một lần nữa trước quốc tế rằng họ là hai quốc gia độc lập.

Phản ứng quốc tế trước sự kiện 30/4/1975 cũng ủng hộ lập luận trên. Đó là hầu hết các quốc gia đều cho rằng CPCM đã thay thế  VNCH để quản lý quốc gia Nam Việt Nam, tức là một sự thay đổi chế độ (change of government) tại miền Nam.

Tính chính danh của hai quốc gia Nam-Bắc Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế trong giai đoạn 4/1975-7/1976 được thể hiện qua tuyên bố của chính phủ Úc vào tháng 10/1975:

“Việc thống nhất giữa Bắc và Nam Việt Nam hiện tại vẫn chưa xảy ra, và như thế vẫn có hai nhà nước tiếp tục vận hành riêng biệt với nhau. Sự hiện diện của hai nhà nước riêng biệt (tại Việt Nam) đã được ít nhất 75 quốc gia công nhận. Việc vận hành riêng biệt cũng như sự chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế đối với hai quốc gia này, VNDCCH và CHMNVN, được thể hiện rõ qua việc họ tham gia vào tổ chức WHO và WMO với tư cách là hai quốc gia thành viên khác nhau tại thời điểm này.”

Quốc gia CHMNVN chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 2/7/1976 khi họ hợp nhất với VNDCCH thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/05/cong-hoa-mien-nam-viet-nam-quoc-gia-15-thang/

 

Tài liệu tham khảo:

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MỘT PHÚT CHỮA BỆNH HIỆU QUẢ

MỘT PHÚT CHỮA BỆNH HIỆU QUẢ

Tác giả:Trịnh Quang Khải
Trong thời gian qua, nhiều thông tin cho rằng cách con người sử dụng thuốc kháng sinh quá nhiều hoặc không đúng phương pháp và liều lượng đã dẫn đến hiện tượng bị nhờn thuốc hoặc hiệu quả trị bệnh không đạt mong muốn.

Song song với việc chữa bệnh bằng phương pháp Tây y, hiện nay có nhiều người quan tâm đến việc chữa bệnh bằng phương pháp Đông y, hay cụ thể hơn là cách chữa bệnh cổ truyền không dùng đến thuốc.

Sau đây là 13 bí quyết chữa bệnh kỳ diệu chỉ mất một phút mà không dùng đến thuốc được nhiều người Trung Quốc xem là kinh nghiệm nằm lòng cần chia sẻ cho bạn bè. Hướng dẫn cách chọn huyệt theo hình ảnh minh họa.

  1. Một phút ngừng ho:

Dùng đốt ngón tay cái ấn vào huyệt Giác tôn trên vành tai và day trong vòng 1 phút thì sẽ giảm ngay triệu chứng ho.

  1. Một phút ngừng hen:

Ấn mạnh vào hai bên huyệt thái dương trong vòng một phút sẽ giảm cơn hen đáng kể.
Nếu kết quả chưa được như mong muốn, tiếp tục bấm day huyệt ngư tế ở phần bàn tay vùng ngón cái, đồng thời ấn huyệt Thái uyên trong 1 phút sẽ giúp cắt cơn hen nhanh chóng.
Vị trí huyệt Thái dương (góc trên trái), huyệt Ngư tế (góc trên phải), huyệt Thái uyên (dưới)

3. Một phút làm hạ huyết áp:

Lấy một ngón tay ấn mạnh một chút vào huyệt Thái dương trong khi ngón tay khác vòng ra phía sau đầu trong vòng 1 phút, huyết áp sẽ giảm đáng kể.
Nếu không giảm xuống đến mức mong muốn, tiếp tục ấn nhẹ nhàng huyệt Bách hội theo chiều kim đồng hồ 36 vòng. Sử dụng phương pháp này cho người huyết áp quá cao (khoảng trên 200mmHg) để ngăn ngừa xuất hiện đứt mạch máu não ngoài ý muốn.

Huyệt Thái dương (vị trí gần mang tai) và huyệt Bách hội

4. Một phút làm giảm đau thắt ngực:

Ấn mạnh tay vào huyệt Trung xung (đầu ngón tay giữa) của tay trái trong một phút có thể làm giảm đau thắt ngực.

Vị trí huyệt Trung xung

  1. Một trong chữa bệnh tim đập nhanh hồi hộp, khó thở
    (còn gọi là chứng tâm hoang khí đoản):

Nhấn huyệt Lao cung hoặc huyệt Thần môn trong lòng bàn tay trái một phút có thể làm giảm sự hồi hộp và khó thở.

Vị trí huyệt Lao cung (trong lòng bàn tay) và huyệt Thần môn (cổ tay)

  1. Một phút chữa nấc:

Dùng đốt ngón tay cái ấn day vào huyệt Toản trúc trên đầu 2 lông mày trong vòng một phút sẽ giúp ngừng cơn nấc tức thì.

Vị trí huyệt Toản trúc

  1. Một phút nguôi ngoai cơn giận dữ :

Khi tức giận sinh khí nóng nảy, muốn làm nhẹ dịu cảm giác bực bội trong một phút, có thể mát-xa hoặc day bấm qua lại giữa huyệt Thái xung và huyệt Hành gian, giảm các chứng bệnh phát sinh liên quan do tức giận mà phát bệnh.

Vị trí huyệt Thái xung và huyệt Hành gian

  1. Một phút chữa bệnh mất ngủ:

Sử dụng gậy mát xa hoặc đồ vật tương tự (như đũa cả hoặc vật hình que) để gãi nhẹ hoặc xoa vào mặt ngoài thành đùi tại huyệt Phong thị sẽ tạo cảm giác buồn ngủ, giúp người bệnh nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Vị trí huyệt Phong thị (Ngoài thành đùi)

  1. Một phút chữa đau đầu:

nhấn mạnh một chút vào huyệt Bách hội, huyệt phong trì trong vòng một phút sẽ ngắt chứng đau đầu. Huyệt Phong trì là 1 điểm trên đầu còn huyệt Phong trì thì đều phải ấn cả hai huyệt song song cùng lúc.

Vị trí huyệt Bách hội (trên đầu) và vị trí huyệt Phong trì (sau gáy)

  1. Một phút chữa chứng chuột rút ở chân:

Ấn mạnh vào huyệt Thừa sơn ở sau bụng bắp chân cả hai bên cùng lúc sẽ ngưng chứng chuột rút bất ngờ. Đây là bí quyết nằm lòng cần ghi nhớ.
Vị trí huyệt Thừa sơn và cách bấm


  1. Một phút ngừng chảy máu cam
    :

Dùng cán mát xa hoặc vật dài giống chiếc đũa bất ngờ đập mạnh tay vào huyệt Dũng tuyền ở dưới lòng gan hai bàn chân sẽ cắt cơn chảy máu cam ngay tức thì.

Vị trí huyệt Dũng tuyền

  1. Một phút chữa đau răng:

Ấn mạnh vào huyệt Hợp cốc ở 2 bàn tay, huyệt Kiên tỉnh mỗi nơi 30 giây sẽ giảm triệu chứng đau răng.

Vị trí huyệt Hợp cốc (trái) và huyệt Kiên tỉnh (phải)

13.Một phút chữa chứng chuột rút ở chân:

Ấn mạnh vào huyệt Thừa sơn ở sau bụng bắp chân cả hai bên cùng lúc sẽ ngưng chứng chuột rút bất ngờ. Đây là bí quyết nằm lòng cần ghi nhớ.
Vị trí huyệt Thừa sơn và cách bấm
LƯU Ý:
Bấm huyệt chính xác, lực vừa phải, rèn luyện nhiều lần để sử dụng khi cần thiết.

Đây là bí quyết nằm lòng được nhiều người sử dụng trong trường hợp cần xử lý triệu chứng bệnh đơn giản không cần dùng thuốc hoặc dùng thuốc kém hiệu quả.

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khi chính quyền ruồng bỏ công dân  

Ông Phạm Minh Hoàng. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Một ngày đầu tháng 6 này, ông Phạm Minh Hoàng, một nhà hoạt động dân chủ, đến cơ quan ngoại giao Pháp ở thành phố Hồ Chí Minh và gặp ông Tổng lãnh sự. Chuyện không có gì đặc biệt bởi ngoài quốc tịch Việt Nam, ông còn là công dân Pháp và đã đi lại với các cơ quan ngoại giao của Pháp ở Việt Nam nhiều lần. Ông hoàn toàn không chuẩn bị đón nhận tin dữ nào.

“Nghe ông Tổng lãnh sự thông báo tôi đã bị tước quốc tịch Việt Nam, tôi như chết lặng, choáng váng đầu óc”, ông Hoàng nói với tôi qua một cuộc gọi trên internet.

Trước đó hai tuần, ngày 17/5, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã ký quyết định tước quốc tịch của ông mà không nói rõ lý do cũng như không thông báo cho ông biết.

Ông Hoàng nói “họ chỉ thông báo miệng cho phía Pháp rồi ông Tổng lãnh sự nói cho tôi biết”.

Quyết định tước quốc tịch này chỉ xuất hiện trên Công báo ngày 7/6, tức một tuần sau cuộc gặp của ông với lãnh sự quán Pháp. Bản thân ông Hoàng chỉ nhận được quyết định qua đường bưu điện vào ngày 10/6.

Đây là tai nạn pháp lý – chính trị lớn thứ hai mà ông từng phải đối mặt, sau 17 tháng trong tù vì tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79, Bộ luật Hình sự và chỉ được trả tự do vào tháng 1/2012.

Sinh năm 1955 tại Vũng Tàu, ông đi du học và sinh sống ở Pháp từ năm 1973. Trở về Việt Nam năm 2000, ông trở thành giảng viên Toán của Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam năm 2007.  Ông công khai là một đảng viên Việt Tân ở trong nước.

Về cơ bản, dù quyết định tước quốc tịch này rõ ràng là trái pháp luật như phân tích của cựu luật sư Lê Công Định, trong mắt chính quyền, ông là một người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và có nguy cơ bị trục xuất bất cứ lúc nào.

“Điều tôi lo lắng hơn cả là việc gia đình phải ly tán. Cả vợ và con tôi đều sống cùng tôi ở Sài Gòn. Tôi còn một anh trai là thương phế binh thương tật gần như 100%, phải có người chăm sóc. Mẹ vợ tôi năm nay cũng đã già yếu”, ông Hoàng nghẹn ngào nói.

Điều an ủi với ông là đứa con gái 13 tuổi của ông đang được học một trường của Pháp ở Việt Nam theo diện được cấp học bổng đến năm 18 tuổi. Ông không phải lo lắng gì nhiều về điều kiện vật chất và học hành của cô. Duy chỉ có việc chia cách cha con là khiến ông đau lòng.

“Giờ tôi không biết phải tính như thế nào. Tôi đã mời luật sư làm thủ tục khiếu nại, nhưng biết đâu họ ập vào nhà khiêng tôi đi thì tôi cũng chẳng làm gì được”, ông nói bằng một chất giọng không mấy lạc quan.

Chỉ bốn tiếng sau khi nói chuyện với tôi, điều ông lo sợ đã trở thành sự thật: một toán công an sắc phục lẫn thường phục lấy cớ vào nhà kiểm tra hộ khẩu và bắt ông đi, không quên để lại lời nhắn: ông sẽ bị trục xuất khỏi Việt Nam ngay ngày mai (24/6).

Nửa đêm ngày 24/6, ông bị trục xuất trên một chuyến bay của Vietnam Airlines và tới Paris nửa ngày sau đó.

Không phải người đầu tiên

Ông Phạm Minh Hoàng không phải là người đầu tiên bị nhà nước từ chối tư cách công dân của mình.

Ngày 27/5 vừa qua, ông Phan Châu Thành, một người định cư ở Ba Lan có song tịch Việt Nam và Ba Lan, bị nhân viên cửa khẩu Tân Sơn Nhất từ chối cho nhập cảnh. Việc ông Thành xuất trình hộ chiếu Việt Nam tại cửa khẩu không giúp ích được gì cho ông.

Ông bị giam giữ tại một phòng làm việc của an ninh cửa khẩu trong nhiều giờ đồng hồ. Nhân viên an ninh giải thích rằng ông bị cấm nhập cảnh vì lý do “an ninh”, mà bằng chứng là ông đã có nhiều bài viết trên các trang Dân Luận và Dân Làm Báo, những trang mạng độc lập và có xu hướng phê phán chính quyền. Điều này hoá ra chỉ là một sự trùng tên.

Tuy nhiên, khó có khả năng cơ quan an ninh nhầm lẫn, vì bản thân ông Phan Châu Thành là một doanh nhân tham gia rất tích cực trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Ba Lan, đồng thời là người thường xuyên lên tiếng về những mặt trái của xã hội Việt Nam, cũng như tài trợ cho nhiều tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.

Bảy tiếng sau đó, ông Thành bị ép lên một chuyến bay của Vietnam Airlines rời khỏi Việt Nam.

Trở về Ba Lan, ông khẳng định sẽ theo đuổi việc đấu tranh pháp lý cho quyền được trở về quê hương của ông, vốn đã ghi rõ trong cả Hiến pháp lẫn các công ước quốc tế về nhân quyền.

Nỗ lực này cũng không suôn sẻ chút nào. Khi ông tới Đại sứ quán Việt Nam đề nghị chứng thực giấy uỷ quyền cho luật sư Đặng Đình Mạnh ở Việt Nam thì bị nhân viên sứ quán từ chối xác nhận.

Trao đổi với Luật Khoa tạp chí, ông Thành cho biết: “Tôi chất vấn thì sau cùng họ nói là họ tiếp nhận hồ sơ nhưng không biết đến khi nào mới trả lời, trong khi việc của họ đơn thuần là xác nhận một chữ ký”.

Luật sư Đặng Đình Mạnh cũng chính là người được ông Phạm Minh Hoàng mời làm người đại diện trong việc khiếu nại quyết định tước quốc tịch của ông.

Bốn ngày trước khi ông Hoàng bị công an bắt tại nhà, luật sư Mạnh đến Bộ Tư pháp nộp đơn khiếu nại nhưng cũng bị từ chối với lý do “không có thẩm quyền”.

“Họ cũng chỉ nhận đơn của tôi, ghi vào sổ công tác của họ nhưng từ chối cấp giấy biên nhận cho tôi”, luật sư Mạnh cho biết.

Xói mòn quốc gia

Theo luật pháp quốc tế, một quốc gia được hình thành nên bởi bốn yếu tố: lãnh thổ, dân cư, chính quyền, và chủ quyền. Bốn yếu tố này có mối liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và từ đó hình thành nên một quốc gia.

Mối quan hệ giữa công dân và chính quyền, do đó, là một trong những mối quan hệ căn bản nhất của quốc gia. Bất cứ khi nào công dân khước từ thực hiện nghĩa vụ của mình với quốc gia (đóng thuế, tôn trọng trật tự công,…) thì khi đó quốc gia suy yếu.

Ở chiều ngược lại, bất cứ khi nào chính quyền từ chối cho công dân được thực hiện những quyền công dân của mình, khi đó quốc gia cũng suy yếu. Trong những quyền công dân đó, có quyền được cư trú trên lãnh thổ quốc gia của mình. Quốc gia là gì nếu không dựa trên căn bản là một nhóm người cùng cư trú trên một lãnh thổ?

Hành động đơn phương tước quốc tịch của ông Phạm Minh Hoàng mà không cho ông bất cứ cơ hội nào để kháng cáo chính là hành động cắt bỏ mối quan hệ công dân – chính quyền. Nói nôm na, chính quyền hiện nay đang có xấp xỉ 95 triệu sợi dây liên kết với 95 triệu công dân của mình, nay nó đã quyết định cắt đi một sợi.

Hành động khước từ cho ông Phan Châu Thành được nhập cảnh vào chính quốc gia mà ông là công dân cũng vậy. Chỉ có một lý do duy nhất mà một chính quyền có thể cấm ai đó nhập cảnh, đó là vì người đó là người nước ngoài. Nói cách khác, nếu bạn bị cấm trở về nhà mình thì có nghĩa rằng bạn không còn được coi là chủ nhà nữa. Thông điệp của chính quyền khá rõ ràng: họ đã không còn coi ông Thành là một trong 95 triệu người chủ của quốc gia Việt Nam. Hành động cấm nhập cảnh, trên thực tế, không khác việc bị tước quốc tịch là bao. Thêm một sợi dây liên kết giữa công dân và chính quyền bị cắt đứt.

Bạn có thể cho rằng chỉ cắt hai sợi trong số 95 triệu sợi dây đó thì đâu ảnh hưởng gì? Nhưng ảnh hưởng của hành động này không chỉ nằm ở hai sợi dây đứt, mà còn nằm ở cái thông điệp mà nó gửi cho tất cả các công dân còn lại: chính quyền sẵn sàng cắt thêm nhiều sợi dây nữa nếu nó cảm thấy không còn muốn coi ai đó là công dân.

Ít ai để ý, đúng ba năm trước ngày ông Phạm Minh Hoàng bị trục xuất, ngày 24/6/2014, chính quyền đã từng suýt cắt bỏ quốc tịch của hàng triệu công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo Luật Quốc tịch 2008, hàng triệu người này sẽ phải đăng ký giữ quốc tịch trước ngày 1/7/2014, nếu không họ sẽ mất quốc tịch. Tuy nhiên, chỉ một tuần trước khi hết thời hạn này, Quốc hội đã kịp bãi bỏ quy định nói trên.

Cũng không nên lạc quan là nếu bạn chỉ có quốc tịch Việt Nam thì chính quyền không dám trục xuất bạn. Chính quyền Trung Quốc từng quẳng một công dân của mình, một thủ lĩnh phong trào Thiên An Môn, qua biên giới với Hong Kong vào năm 1993. Người đó sau này trở thành một nhà hoạt động công đoàn nổi tiếng bậc nhất thế giới: Han Dongfang.

Nguồn :http://luatkhoa.org/2017/06/khi-chinh-quyen-ruong-bo-cong-dan/

——————==========================================
http://www.nguoi-viet.com/viet-nam/truc-xuat-khoi-viet-nam/?utm_source=NV+Newsletter&utm_campaign=c8a8eecb71-EMAIL_CAMPAIGN_2017_06_26&utm_medium=email&utm_term=0_cf5f0a479c-c8a8eecb71-166010221

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CŨNG TẠI TỔNG THỐNG TRUMAN ,8 THƯ MÀ KHÔNG CHỊU HỒI ÂM

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Truman

Trong hai năm 1945 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện gửi Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman.LTS: Trong bài viết nhìn lại chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, VietNamNet đã nhấn mạnh đến bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Harry Truman ngày 16/2/1946, được Chủ tịch nước giới thiệu với Tổng thống đương nhiệm Barack Obama.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của TS Ngô Vương Anh, một nhà nghiên cứu lâu năm về Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về những giá trị, những bài học lịch sử nhìn từ bức thư nêu trên:


Có lợi cho toàn thế giới

Trong bức thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman ngày 16/2/1946 (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr 91- 91), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ chính nghĩa của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc, đứng về phía đồng minh chống phát xít; sự phi nghĩa của cuộc xâm lược mà thực dân Pháp đang đẩy mạnh ở Đông Dương trái ngược những lập trường Mỹ đã nêu trong các hội nghị quốc tế.

thư, Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ, Obama, Trương Tấn Sang
Trang 1 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Truman ngày 16/2/1946, trong đó bày tỏ Việt Nam mong muốn được “hoàn toàn độc lập” và ý nguyện thiết lập “hợp tác đầy đủ” với Hoa Kỳ. Ảnh: Tư liệu của Cục Lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định trong sự ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

Điều mà chúng tôi đề nghị đã được trao cho Philippines một cách quý báu. Cũng như Philippines, mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.

Nhìn xa hơn về quá khứ, người ta thấy rằng những bức điện, thư của Hồ Chí Minh, với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, gửi Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đã có “ tiền đề” từ những mối quan hệ của Hồ Chí Minh (và Việt Minh) với lực lượng Mỹ chống Nhật ở Hoa Nam trước đó.

Sau khi Nhật tấn công Trân Châu cảng (7/12/1941) mở đầu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Mỹ đặt Đông Dương trong khu vực tác chiến của Quân đoàn không quân số 14 của Mỹ, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở vùng Hoa Nam và bắc Đông Dương.

Những tiếp xúc của Hồ Chí Minh với lực lượng Mỹ được thiết lập từ tháng 3/1945, sau sự kiện trung úy R. Shaw được Việt Minh cứu thoát ở vùng núi Cao Bằng ngày 2/11/1944 và đưa trở lại Côn Minh. Ngày 29/3/1945 ở Côn Minh, Hồ Chí Minh gặp tướng C. Chenault tư lệnh không đoàn 14 và hai người đã có những mối thiện cảm.

thư, Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ, Obama, Trương Tấn Sang
thư, Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ, Obama, Trương Tấn Sang
Trang 2 và 3 của bức thư

Hồ Chí Minh cũng đã làm cho người Mỹ hiểu hơn về Việt Minh và cuộc chiến đấu của giành độc lập của người Việt Nam. Sau đó, người Mỹ bắt đầu coi Việt Minh như một lực lượng đồng minh chống Nhật tích cực và có thể phối hợp các nỗ lực.

Cho đến đầu tháng 5/1945, hai sĩ quan OSS (Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA) đã có thể đều đặn gửi báo cáo về từ Tân Trào. Ngày 17/7/1945, đội tình báo Mỹ mang biệt danh Con nai gồm 5 người do thiếu tá A. Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống Tân Trào.

Họ huấn luyện các kỹ năng quân sự cho 40 người được chọn từ số 110 quân du kích của Đàm Quang Trung. Đầu tháng 8/1945, trung đội Bộ đội Việt – Mỹ (tên đặt chính thức của Hồ Chí Minh) đã được thành lập và ngày 20/8/1945 trung đội này đã tham gia chiến đấu với quân Nhật ở Thái Nguyên dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp.

Việc hỗ trợ trang bị và huấn luyện chiến đấu cho một lực lượng nhỏ người địa phương trong vùng núi rừng Việt Bắc không giữ vai trò đáng kể về mặt quân sự trong việc kết thúc chiến tranh với Nhật ở Đông Dương. Người Mỹ biết rõ điều đó. Hồ Chi Minh cũng biết rõ điều đó.

Điều quan trọng hơn của những mối quan hệ với lực lượng Mỹ mà Hồ Chí Minh chủ trương thiết lập chính là tăng thêm lực lượng ngoại giao, uy thế chính trị của Việt Minh để giành độc lập cho dân tộc và tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Con đường hòa bình

Ngay sau khi giành lại được độc lập, bên cạnh việc củng cố, xây dựng chính quyền non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những hoạt động tích cực mở rộng quan hệ quốc tế.

Với Chính phủ Mỹ, trong hai năm 1945 – 1946, Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện gửi Tổng thống Harry Truman, 3 thư và điện gửi Bộ trưởng Ngoại giao James Byrnes.

Trong thư gửi ông James Byrnes ngày 1/11/1945, Hồ Chí Minh đề nghị gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ để “xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”, và theo Người, giới trí thức Việt Nam “tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì tìm cách hoà bình, tìm con đường hoà bình để đem lại hoà bình cho nhân dân, cho đất nước Việt Nam với đầy đủ nội dung về quyền dân tộc.

Với con đường hòa bình, Hồ Chí Minh hướng đến điều hòa sự đa dạng về xu hướng chính trị, chế độ xã hội giữa các nước để các dân tộc gần gũi nhau, hiểu biết nhau, để mở rộng sự hợp tác hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước láng giềng và khu vực, hướng tới hòa bình và thịnh vượng.

Năm 1955, Người phát biểu: “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hoà bình, tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hoà bình được”.

Điều được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh với Tổng thống Harry S. Truman cho đến nay không hề cũ.

Những dòng cuối cùng trong Thông điệp của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đăng trên tờ Washington Post ngày 27/7/2013 đã kế thừa rõ nét tinh thần đó: “Mặc dù ở hai bờ xa cách của Thái Bình Dương bao la, nhân dân Việt Nam và nhân dân Hoa Kỳ cùng chia sẻ một niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của một châu Á – Thái Bình Dương, hòa bình, hợp tác, thịnh vượng. Hôm nay, khi tôi tới thăm đất nước và nhân dân Hoa Kỳ, chúng ta cùng chia sẻ niềm vui vì ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần 70 năm trước về mối quan hệ “hợp tác đầy đủ” giữa hai dân tộc đã thành hiện thực”.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Việt Nam và đại nạn Trung Hoa

Nguồn Việt Nam và đại nạn Trung Hoa

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lời Bác dặn trước lúc đi xa

Các thầy thuốc Trung Quốc bên cạnh Bác vào những năm tháng cuối đời

2013-05-21 17:16:02     cri

Bác Hồ với các y bác sĩ Trung Quốc

(Bác sĩ Trương Hiếu người ngồi bên phải-ảnh tư liệu do con gái Bác sĩ Hiếu cung cấp)

Những ngày cuối tháng 8, tình trạng sức khỏe của Bác trở nên nguy kịch, các bác sĩ Trung Quốc và Việt Nam không kể ngày đêm túc trực bên cạnh Người. Các bác sĩ Trung Quốc, không nề hà khó khăn, mệt nhọc. Để nâng cao hiệu quả của thuốc chích Erytromyxin, bao giờ các bác sĩ Trung Quốc cũng lấy thuốc tiêm thí nghiệm trên thân mình trước khi tiêm cho Bác.

Một ngày trong hạ tuần tháng 8, Bác nhìn các bác sĩ Trung Quốc đứng cạnh nói nhỏ: “Mong nghe ai hát một bài ca Trung Quốc”. Chị y tá trưởng của bệnh viện Bắc Kinh, lập tức hát một bài ca Trung Quốc cho Bác nghe. Bác nghe xong, mỉm cười. Nữ y tá đó chính là bà Vương Tây Minh. Năm 2008, nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà đã có dịp trở lại Việt Nam và xúc động kể lại: “Lúc đó, tôi đã hát một bài hát Trung Quốc. Tôi xúc động nên hát không được hay lắm. Nghe xong, Bác giơ tay lên và ý nói cảm ơn. Bác để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc về một vị Chủ tịch nước thật giản dị, hiền từ”.

Sáng ngày 2-9-1969, Bác đi xa chúng ta mãi mãi, để lại cho mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế một niềm tiếc thương vô hạn.

Thủ tướng Chu Ân Lai, khi nghe tin rất lấy làm đau buồn, thương tiếc. Sáng 4-9, Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu phái đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đến Hà Nội viếng Bác, trong đoàn có đồng chí Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh. Với tình cảm đặc biệt giữa Bác và Thủ tướng Chu Ân Lai, Trung ương Đảng ta đã sắp xếp để Thủ tướng đến Bệnh viện Quân y 108-nơi gìn giữ thi hài Bác. Cúi mình mặc niệm trước thi hài Bác, đồng chí đã khóc rất lâu. Tiếp đó, ngày 8-9, phái đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc do đồng chí Lý Tiên Niệm dẫn đầu đến Hà Nội dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguồn: http://vietnamese.cri.cn/541/2013/05/21/1s186489_4.htm
Ghi chú:

Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc-CRI thành lập ngày 3-12-1941 là Đài phát thanh Quốc gia phát sóng ra toàn thế giới duy nhất của Trung Quốc .
Ban tiếng Việt Nam Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc được thành lập vào năm 1950. Trong nửa thế kỷ qua, ban tiếng Việt Nam luôn luôn lấy việc giúp đỡ nhân dân Việt Nam hiểu biết hơn về Trung Quốc cũng như thắt chặt mối tình hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai nước Trung Việt làm trung tâm và tôn chỉ của mình.

Mời nghe: Lời Bác dặn trước lúc đi  xa
https://www.youtube.com/watch?v=dAWMy41P2dw

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lưu Hiểu Ba – Tôi không có kẻ thù

11 Tháng Mười , 2010

Quyền tự do phát biểu là cơ sở của nhân quyền, là nguyên uỷ của nhân tính và là mẹ của sự thật. Cấm đoán tự do ngôn luận là giày xéo lên quyền con người, bóp nghẹt nhân tính, và trấn áp sự thật.

Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả.

Liu Xiaobo (Lưu Hiểu Ba)

Tháng Sáu 1989 là bước ngoặt lớn của cả cuộc đời 50 năm của tôi. Trước kia, tôi từng là một sinh viên trong lứa đầu tiên được tuyển sinh vào trường đại học vừa mở cửa lại sau Cách Mạng Văn Hoá; đường học của tôi diễn tiến êm ả từ cấp cử nhân lên cao học rồi Tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, tôi được giữ làm giảng viên trường Đại Học Bắc Kinh.

Trên bục giảng, tôi là một thầy giáo được nhiều sinh viên biết đến. Tôi cũng là một trí thức của công chúng: những năm 1980, tôi viết nhiều bài báo và sách có tiếng vang. Tôi thường đi lại nhiều nơi diễn thuyết, được mời đi thỉnh giảng tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Tôi đòi hỏi ở mình đức chân thực, tinh thần trách nhiệm, và lòng tự trọng cả trong đời sống lẫn trong bài viết.

Sau đó, khi tôi từ Hoa Kỳ trở về, tôi tham gia phong trào sinh viên 1989, bị tù vì “tuyên truyền phản cách mạng và kích động bạo loạn”, bị tước mất vị thế tôi trân trọng; tôi bị cấm không được viết lách hay diễn thuyết tại Trung Quốc. Chỉ vì mỗi một chuyện là phát biểu quan điểm khác biệt về chính trị và tham gia các phong trào dân chủ và hoà bình, mà một thầy giáo phải xa bục giảng, người cầm bút bị cấm xuất bản, và người trí thức thì mất cơ hội nói với công chúng. Điều này đáng buồn cho cá nhân tôi đã đành, mà còn cho cả đất nước Trung Hoa sau ba thập niên đổi mới và mở cửa.

Xem nào, những trải nghiệm nặng nề nhất của tôi từ sau biến cố 4 Tháng Sáu 1989 đều dính dáng với toà án; hai dịp mà tôi có điều kiện nói với công chúng đều là tại toà án sơ thẩm Bắc Kinh, một lần vào Tháng Giêng 1991 và lần này. Tuy rằng tội danh vào mỗi dịp đều khác nhau, về thực chất cả hai đều là tội danh liên quan đến quyền tự do ngôn luận.

Đã hai mươi năm qua, những linh hồn trong trắng của biến cố 4 Tháng Sáu vẫn chưa được yên nghỉ, và tôi, một kẻ đã đi trên con đường bất đồng chính kiến vì nhiệt tâm với 4 Tháng Sáu, sau khi rời nhà tù Tần Thành năm 1991, đã bị cấm ăn nói tại chính quê hương mình, và chỉ được phép phổ biến quan điểm của mình qua truyền thông hải ngoại, vì thế bị theo dõi suốt nhiều năm qua; bị quản chế (Tháng Năm 1996 – Tháng Mười 1999), và bây giờ bị đẩy vào thế đứng kẻ thù của chế độ.

Tuy nhiên tôi muốn nói với chế độ đã tước đoạt quyền tự do của tôi, rằng tôi vẫn thuỷ chung với niềm tin của mình mà tôi từng bày tỏ hai mươi năm trước, khi tôi phát biểu tại kì tuyệt thực –Tôi không có kẻ thù, không có lòng căm thù. Không một nhân viên an ninh theo dõi, bắt giữ và thẩm vấn tôi, công tố viên kết tội tôi, hay vị chánh án đã xử án tôi, không ai là kẻ thù tôi cả. Mặc dù tôi không thể chấp nhận sự theo dõi, bắt bớ, kết tội, tuyên án của các vị, tôi vẫn tôn trọng nghiệp vụ và nhân cách của các vị. Kể cả sự buộc tội lần này: Tôi biết các vị tôn trọng tôi và giữ sự chân tình trong lúc thẩm vấn tôi hôm 3 Tháng Mười Hai.

Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của ta; não trạng thù hận có thể làm hỏng hồn tính một quốc gia, gây ra bao nhiêu là bạo động oan khiên cho vạn sinh linh, phá hỏng lòng khoan hoà và tình người của một xã hội, và ngăn chặn bước tiến của một quốc gia trên hành trình về tự do dân chủ. Do vậy tôi mong rằng mình sẽ có thể vượt lên khỏi những thăng trầm của số phận một cá nhân nhỏ bé để mà hiểu được sự phát triển của quốc gia và những đổi thay của xã hội, vượt qua thái độ thù hận mà chế độ dành cho tôi bằng thái độ chín hđính nhất, và lấy tình thương để gỡ bỏ sự thù hận.

Tôi vững tin rằng tiến bộ chính trị tại Trung Hoa sẽ không bao giờ ngừng lại, và tôi hoàn toàn lạc quan chờ đợi ngày tự do đến với Trung Hoa trong một tương lai không xa, bởi sẽ không có thế lực nào có thể cản trở khát vọng tự do của con người. Sẽ có ngày Trung Hoa trở thành một quốc gia pháp trị, ở đó quyền con người là tối thượng. Tôi cũng chờ đợi bước tiến ấy thể hiện cụ thể qua phiên toà này, và chờ đợi một phán quyết công bằng của toà như một phép thử của lịch sử.

Hỏi rằng trong hai thập niên qua, điều gì là một trải nghiệm may mắn nhất đời tôi, tôi không ngần ngại mà nói rằng đấy là tình yêu tràn đầy của Lưu Hà, người vợ thân yêu. Em không thể có mặt tại phiên toà hôm nay, nhưng anh vẫn muốn bày tỏ với người yêu dấu của anh một điều, rằng anh vẫn vững tin vào tình yêu bền chặt của chúng ta. Đã bao năm nay, trong hoàn cảnh đời sống mất tự do, tình yêu chúng ta đã chỉ có lắm chua xót vì ngoại cảnh đưa đẩy, nhưng nó vẫn bay bổng khỏi những rào chắn. Anh bị giam cầm trong một nhà tù nhỏ, còn em thì vẫn đang vò võ đợi anh trong nhà tù lớn.

Tình yêu em là ánh sáng đã giúp anh vượt qua những bức tường và thanh sắt, vẫn dịu dàng trên từng li tấc da thịt anh, sưởi ấm từng tế bào cơ thể anh, giúp anh giữ lòng mình được thanh thản, cao thượng và trong sáng, vì vậy mỗi phút giây trong nhà tù vẫn tràn đầy ý nghĩa. Bù lại, tình yêu anh dành cho em toàn là sự thống hối, có khi làm nặng trĩu từng bước chân đi. Anh là một viên đá tảng nặng nề nơi chốn hoang vu, hứng chịu những nghiệt ngã của bão tố, và trở thành lạnh băng trước nhân gian. Nhưng tình yêu anh vẫn bền,sắc, và có thể vượt qua bao cản ngại. Cho dù ai có nghiền nát anh, anh vẫn nguyện ôm ấp em bằng tro than của mình.

Có tình yêu em, người yêu dấu ơi, anh sẽ nhìn thẳng vào phiên toà hôm nay với lòng thanh thản, không tiếc hận về những chọn lựa của mình, và vẫn lạc quan tin tưởng vào một ngày mai. Anh chờ đợi đất nước chúng ta sẽ trở thành xứ sở tự do, ở đó tiếng nói của mọi công dân được đối xử ngang nhau; ở đó mọi khác biệt về giá trị, quan điểm, niềm tin, chính kiến… đều được quyền tương tranh và cộng tồn bên nhau trong hoà bình; ở đó quan điểm của đa số và thiểu số đều được bảo đảm, nhất là những chính kiến khác biệt với quan điểm quan phương chính thống sẽ được tôn trọng và bảo vệ; ở đó tất cả mọi quan điểm chính trị đều được công khai cho nhân dân lựa chọn; ở đó mọi công dân sẽ được quyền biểu đạt chính kiến mà không phải sợ hãi, không bị trấn áp vì cất tiếng nói bất đồng.

Tôi mong mỏi rằng bản thân mình sẽ là nạn nhân cuối cùng của chuỗi dài truy đuổi bất tận những kẻ bất đồng tại Trung Hoa, và rằng sau tôi sẽ không ai còn phải chịu cảnh tù đày vì bày tỏ quan điểm của mình.

Quyền tự do phát biểu là cơ sở của nhân quyền, là nguyên uỷ của nhân tính và là mẹ của sự thật. Cấm đoán tự do ngôn luận là giày xéo lên quyền con người, bóp nghẹt nhân tính, và trấn áp sự thật.

Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả.

Xuyến Như chuyển ngữ

Theo Thông Luận

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?